1. XÁC ĐỊNH MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM GEN KHÁNG MACROLIDE CỦA VI KHUẨN BORDETELLA PERTUSSIS GÂY BỆNH HO GÀ Ở TRẺ EM ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG

Trần Hồng Trâm1, Hoàng Đình Cảnh2
1 Viện Kiểm định Quốc gia và Sinh phẩm quốc gia
2 Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đề tài: Xác định một số đặc điểm gen kháng macrolide của vi khuẩn Bordetella pertussis (B. pertusis) gây bệnh ho gà ở trẻ em điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương.


Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm gen kháng kháng sinh của vi khuẩn B. pertussis gây bệnh ho gà ở trẻ em điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương


Phương pháp: Đề tài được thiết kế bằng phương pháp nghiên cứu mô tả thực nghiệm tại labo, với đối tượng nghiên cứu là bệnh nhi dưới 16 tuổi được chẩn đoán ho gà điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương.


Kết quả: Ngày xét nghiệm Real-time PCR ho gà (+) trung bình 12,4 ± 7,0. Giá trị chu kỳ ngưỡng (Cycle thresold - Ct) trung bình là 25,4 ± 6,1 chu kỳ. Trong 136 mẫu phân tích gen đột biến kháng macrolide, có 122 mẫu thu được kết quả, trong đó 14 mẫu xác định được có đột biến A2047G trên gen rRNA 23S kháng macrolide, chiếm tỷ lệ là 11,5% (14/122). Hà Nội có số ca mắc vi khuẩn ho gà mang đột biến A2047G cao nhất, tiếp theo là các tỉnh lân cận như Hưng Yên, Bắc Ninh. Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn ho gà có đột biến macrolide A2047G ở nhóm trẻ không tiêm chủng và nhóm trẻ có tiêm chủng là tương đương nhau, lần lượt là 11,6% và 10,0% .


Kết luận: Xác định được 17 kiểu gen MLVA trong quần thể nghiên cứu, trong đó các kiểu gen MLVA mang đột biến A2047G là MT104, MT195, MT107 và kiểu B mới. Tỷ lệ vi khuẩn ho gà mang đột biến A2047G trên gen rRNA 23S gây kháng Macrolide là 11,5%(14/122), chủ yếu ở Hà Nội và các tỉnh Miền Bắc.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Trần Đăng Xoay, Một số yếu tố liên quan đến tử
vong ở bệnh nhân ho gà nặng thở máy tại khoa
điều trị tích cực Bệnh viện Nhi Trung ương,
Luận án tiên sĩ, Trường Đại học Y Hà Nội, 2020.
[2] Tuan TA, Xoay TD, Nakajima N et al., Pertussis
Infants Needing Mechanical Ventilation and
Extracorporeal Membrane Oxygenation: SingleCenter
Retrospective Series in Vietnam. Pediatric
Critical Care Medicine, 2021, 22(9), e471.
[3] Phạm Quang Thái, Cao Bá Lợi, Phương pháp
tính cỡ mẫu và chọn mẫu trong nghiên cứu y
sinh học; Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, trang
52-69, 2019.
[4] Lin XJ, Zou J, Yao K et al., Analysis of antibiotic
sensitivity and
[5] resistance genes of Bordetella pertussis in Chinese
children. Medicine, 2021, 100(2),e24090.
[6] Sarah SL, Kathryn ME, Jussi M, Bordetella
pertussis (Pertussis) and Other Bordetella
Species. Principles and Practice of Pediatric
Infectious Diseases. fifth edition, Elsevier,
Philadelphia, 2018, p 4574-4618.
[7] Guillot S, Descours G, Gillet Y et al., Macrolide
Resistant Bordetella pertussis Infection in
Newborn Girl, France. Emerg Infect Dis, 2012,
18(6), 966–968.
[8] Wang Z, Li Y, Hou T et al., Appearance of
Macrolide-Resistant Bordetella pertussis
Strains in China. Antimicrobial Agents and
Chemotherapy, 2013, 57(10), 5193-5194.
[9] Xu Z, Wang Z, Luan Y et al., Genomic
epidemiology of erythromycin-resistant
Bordetella pertussis in China. Emerging
Microbes & Infections, 2019, 8(1), 461-470.
[10] Kamachi K, Duong HT, Dang AD et al.,
Macrolide-Resistant Bordetella pertussis,
Vietnam, 2016−2017 - Emerging Infectious
Diseases journal – CDC; Volume 26, Number
10-October 2020
[11] Li L, Deng J, Ma X et al., High Prevalence of
Macrolide-Resistant Bordetella pertussis and
ptxP1 Genotype, Mainland China, 2014–2016.
Emerg Infect Dis, 2019, 25(12), 2205–2214.