Tạp chí Y học Cộng đồng
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd
<p>Demo</p>Vietnam Institute of Community Healthvi-VNTạp chí Y học Cộng đồng2354-0613KHẢO SÁT TỶ LỆ HUYẾT THANH DƯƠNG TÍNH VỚI ẤU TRÙNG TOXOCARA SPP. VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175 NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4676
<p>Bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo là một bệnh ký sinh trùng truyền từ động vật sang người do ấu trùng <em>Toxocara</em> canis và <em>Toxocara cati</em> gây ra. Tại Việt Nam, điều kiện khí hậu thích hợp và tình trạng nuôi chó/mèo thả rông góp phần làm tăng nguy cơ phơi nhiễm với bệnh.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ huyết thanh dương tính với ấu trùng <em>Toxocara</em> spp. và mối liên quan giữa kết quả xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán <em>Toxocara</em> spp. với các yếu tố liên quan đến kiến thức, hành vi của người tham gia tại Bệnh viện Quân Y 175.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang trên 221 bệnh nhân đến khám ngoại trú, được chỉ định xét nghiệm ELISA tìm kháng thể IgG kháng <em>Toxocara</em> spp. và trả lời bộ câu hỏi.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ huyết thanh dương tính với ấu trùng <em>Toxocara</em> spp. là 55,2%. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kết quả huyết thanh dương tính và nghề nghiệp (p=0,03), tần suất tiếp xúc chó/mèo (p=0,008), tiếp xúc đất (p<0,001). Trong nhóm người nuôi chó/mèo, các yếu tố có ý nghĩa thống kê gồm: hình thức nuôi chó/mèo (p=0,012), tần suất vệ sinh chuồng (p=0,006), cách xử lí phân (=0,004), tần suất tẩy giun cho chó/mèo (p=0,001). Kiến thức không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ dương tính.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ huyết thanh dương tính ấu trùng <em>Toxocara</em> spp. khá cao. Các yếu tố hành vi như tiếp xúc với đất, tiếp xúc với chó/mèo đóng vai trò quan trọng.</p>Lê Thùy DươngNguyễn Thanh LiêmLê Đỗ Nhật AnNguyễn Thị Tường VânNguyễn Thị TươiTrần Thị Huệ Vân
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4676SỰ THAY ĐỔI CỦA HỆ VI KHUẨN ĐƯỜNG RUỘT VÀ AXID BÉO CHUỖI NGẮN TRÊN BỆNH NHÂN NHIỄM GIUN LƯƠN STRONGYLOIDES STERCORALIS NẶNG
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4677
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá sự thay đổi của hệ vi khuẩn đường ruột và acid acetic ở bệnh nhân nhiễm giun lươn (<em>Strongyloides stercoralis)</em> với mức độ khác nhau.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu này được tiến hành trên nông dân ở vùng Đông Bắc Thái Lan. Năm mươi bệnh nhân nhiễm giun lươn (<em>S. stercoralis) </em>được chia thành 2 nhóm SA, SF (SA - giun lươn <em>(S. stercoralis)</em> được phát hiện bằng phương pháp nuôi cấy trên đĩa thạch, SF - giun lươn được phát hiện bằng cả hai phương pháp: nuôi cấy trên đĩa thạch và tập trung ký sinh trùng bằng formol/ether). ADN vi khuẩn trong phân của bệnh nhân được tách chiết, sau đó gộp mẫu theo từng nhóm SA, SF và giải trình tự gen 16sRNA bằng phương pháp giải trình tự thế hệ mới dựa trên vùng 3-4 của gene này. Acid béo chuỗi ngắn - acetic acid trong máu được xác định bằng phương pháp sắc ký khí – quang phổ khối GC-MS.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ nhiễm giun lươn (<em>S. stercoralis)</em> có liên quan đến sự thay đổi của hệ vi khuẩn đường ruột và nồng độ acid acetic. So với nhóm nhiễm nhẹ (SA), nhóm nhiễm giun lươn nặng (SF) có nồng độ acid acetic giảm đáng kể, đồng thời ghi nhận sự suy giảm các giống vi khuẩn có lợi như <em>Bifidobacterium</em>, <em>Lactobacillus</em> và <em>Blautia</em>. Ngược lại, các giống vi khuẩn tiềm tàng gây bệnh bao gồm <em>Escherichia–Shigella</em>, <em>Proteus</em> và <em>Bacteroides</em> tăng lên rõ rệt ở nhóm SF. Đặc biệt, một số loài vi khuẩn sinh acid béo chuỗi ngắn có lợi như <em>Coprococcus eutactus</em>, <em>Lactobacillus salivarius</em> và <em>Lactobacillus reuteri</em> giảm mạnh ở bệnh nhân nhiễm nặng, cho thấy sự mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột liên quan đến mức độ nhiễm giun lươn.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Nhiễm giun lươn (<em>S. stercoralis</em><em>)</em> nặng làm giảm các vi khuẩn đường ruột có lợi và acid acetic trên bệnh nhân.</p>Nguyễn Thị HảiNông Phúc ThắngNguyễn Thị Quỳnh TrangDoãn Thùy Dung
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4677THỰC TRẠNG NHIỄM GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT, SÁN TRUYỀN QUA THỨC ĂN Ở NGƯỜI DÂN TẠI HAI XÃ THUỘC HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU, NĂM 2021
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4678
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định thực trạng nhiễm giun truyền qua đất, sán truyền qua thức ăn ở người dân xã Tả Ngảo và Tả Phìn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu năm 2021.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu cắt ngang tiến hành tháng 11/2021 trên 401 người dân (199 tại Tả Ngảo, 202 tại Tả Phìn), độ tuổi 6 - 65. Mẫu phân được xét nghiệm bằng kỹ thuật Kato - Katz.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Có 242/401 người (60,3%) nhiễm ít nhất 1 loại giun truyền qua đất, sán truyền qua thức ăn. Tỷ lệ nhiễm tại Tả Ngảo (67,3%) cao hơn Tả Phìn (53,5%) (OR=1,794; 95%CI: 1,196–2,691; p=0,003). Nam (60,2%) và nữ (60,5%) có tỷ lệ tương đương. Nhóm tuổi 6 -10 nhiễm cao nhất (76,1%), nhóm từ 61 tuổi trở lên có tỷ lệ nhiễm thấp nhất (5%). Tỷ lệ nhiễm giun đũa 35,9%, giun tóc 10,7%, giun móc/mỏ 23,7%, sán lá phổi 3,7%. Đơn nhiễm chiếm 79,3%, nhiễm phối hợp 2 loài 18,6%, 3 loài 2,1%. Toàn bộ nhiễm giun tóc và giun móc/mỏ ở mức nhẹ. Trong 144 ca giun đũa, 6,9% nhiễm trung bình, 1,4% nhiễm nặng, còn lại nhẹ.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất, sán truyền qua thức ăn tại hai xã thuộc huyện Sìn Hồ vẫn ở mức cao do đó cần triển khai các biện pháp can thiệp tẩy giun định kỳ và giáo dục vệ sinh môi trường nhằm giảm tỷ lệ nhiễm và nguy cơ tái nhiễm.</p>Vũ Thị Lâm BìnhĐỗ Trung Dũng
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4678NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NHIỄM SÁN LÁ NHỎ VÀ XÁC ĐỊNH TRƯỜNG HỢP NHIỄM Clonorchis sinensis LẦN ĐẦU ĐƯỢC PHÁT HIỆN TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ BẰNG HÌNH THÁI HỌC VÀ SINH HỌC PHÂN TỬ
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4679
<p><strong>Mục tiêu</strong> xác định một số đặc điểm nhiễm sán lá nhỏ tại các xã vùng Lìa tỉnh Quảng Trị và xác định loài sán lá gan nhỏ <em>Clonorchis sinensis</em> bằng hình thái học và sinh học phân tử.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 402 người từ 2 tuổi trở lên tại xã Lìa và xã A Dơi tỉnh Quảng Trị, bằng phương pháp xét nghiệm phân Kato-Kazt và thu hồi sán trong phân bằng phương pháp đãi phân.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tỷ lệ nhiễm sán lá nhỏ 29,60%, trong đó xã A Dơi 32,00%, xã Lìa 27,23%, thu thập được một số sán lá nhỏ qua định loại hình thái học và sinh học phân tử xác định sự xuất hiện đầu tiên sán lá gan nhỏ <em>Clonorchis sinensis</em> tại xã A Dơi, Quảng Trị.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Xác định được tỷ lệ nhiễm sán lá nhỏ trong cộng đồng người dân tại các xã vùng Lìa, tỉnh Quảng Trị, nhóm tuổi nhiễm chiếm tỷ lệ cao là nhóm tuổi lao động >20 tuổi. Xác định sự hiện diện loài sán lá gan nhỏ<em> Clonorchis sinensis</em> đầu tiên tại tỉnh Quảng Trị.</p>Trần Bình TrọngNguyễn Hữu GiáoNguyễn Thị DungPhan Thị Thu HàNguyễn Thị Thanh TrầmĐào Thị Thu GiangNguyễn Thị Minh TrinhNguyễn Thị Liên HạnhLê Thị Hạnh Diệu
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4679NHIỄM SÁN LÁ PHỔI TRÊN NGƯỜI BỆNH XUẤT HUYẾT NÃO TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4680
<p>Báo cáo trình bày ca bệnh nhập viện do xuất huyết não trên nền tăng huyết áp, tiền sử ho đờm lẫn máu kéo dài trên 10 năm, từng nhiều lần bị chẩn đoán nhầm là viêm phế quản mạn hoặc viêm phổi. Trong quá trình điều trị, bệnh cảnh trở nên cực kỳ phức tạp với hàng loạt biến chứng nội khoa. Chẩn đoán xác định nhiễm sán lá phổi được đưa ra vào ngày thứ 7 sau khi tìm thấy trứng sán trong dịch nội khí quản, phân và xét nghiệm ELISA dương tính. Hình ảnh X-quang và CT ngực ghi nhận các tổn thương điển hình của sán lá phổi, được điều trị đặc hiệu bằng Praziquantel kết hợp hồi sức chuyên sâu. Sau hơn một tháng, bệnh nhân sạch trứng sán, các chỉ số nội khoa ổn định và được xuất viện. Nghiên cứu trường hợp bệnh này với mục đích cung cấp những hiểu biết có giá trị về cân nhắc chẩn đoán nhiễm sán lá phổi, chiến lược điều trị và ý nghĩa tiên lượng cho những người bệnh ho ra máu kéo dài, ngay cả khi có các bệnh lý nền phức tạp che lấp triệu chứng.</p>Phạm Ngọc MinhĐỗ Trung DũngNguyễn Ngọc BíchCao Vân HuyềnPhạm Ngọc DuấnPhạm Thị Bích NgọcNguyễn Thị HuệTrần Kim LâmĐỗ Thái SơnHoàng Thị Phương Thanh
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4680MỐI LIÊN QUAN GIỮA SỐ LƯỢNG TẾ BÀO T-CD4 VỚI TÌNH TRẠNG NHIỄM Candida spp. MIỆNG TRÊN NGƯỜI BỆNH HIV
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4682
<p>Nhiễm nấm Candida spp. miệng là bệnh nhiễm trùng cơ hội phổ biến và dễ tái phát nhất ở người bệnh mắc hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải.<br>Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá mối liên quan giữa số lượng tế bào T-CD4 ở người mắc HIV và tình trạng nhiễm nấm Candida spp. miệng.<br>Phương pháp nghiên cứu: Phân lập và định danh vi nấm từ mẫu bệnh phẩm phết miệng của 52 bệnh nhân dương tính HIV đang điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế Tp Thuận An, Bình Dương từ 12/2023- 06/2024 bằng môi trường CHROMagar Candida. Tế bào lympho T-CD4 của bệnh nhân được đếm bằng phương pháp đếm tế bào dòng chảy.<br>Kết quả: Tỷ lệ nhiễm Candida spp. chiếm 57,7%, trong đó C. albicans là cao nhất (50%). Tỷ lệ bệnh nhân có số lượng tế bào T-CD4 ≥ 300 và T-CD4 < 300 tế bào/mm3 lần lượt là 53,8% và 46,2%. Thời gian điều trị thuốc ARV từ 31-90 ngày chiếm tỷ lệ cao nhất là 36,5%. Tình trạng nhiễm nấm Candida spp. không có mối liên quan với thời gian điều trị ARV (p = 0,819) và mức T-CD4 (p = 0,080). Trong khi đó, tình trạng nhiễm nấm C. albicans có mối liên quan với người mắc HIV có số lượng tế bào T-CD4<300 tế bào/mm3 (p = 0,029).<br>Kết luận: Nguy cơ nhiễm vi nấm C. albicans trên người HIV/AIDS ở nhóm bệnh có T-CD4 < 300 tế bào/mm3 cao hơn 3,6 lần so với nhóm T-CD4 ≥ 300.</p> <p> </p>Trần Thị Huệ Vân
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4682SỐT RÉT BIÊN GIỚI: GIA TĂNG VÀ THÁCH THỨC KIỂM SOÁT TẠI KHU VỰC HƯỚNG HOÁ, QUẢNG TRỊ NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4683
<p>Sốt rét liên quan di biến động biên giới là ưu tiên hiện nay; cần đánh giá xu hướng tăng, can thiệp và thách thức để cắt đứt lây truyền tại chỗ, góp phần lộ trình loại trừ sốt rét.</p> <p><strong>Mục tiêu</strong>: Mục tiêu 1: Đánh giá xu hướng gia tăng và đặc điểm dịch tễ học sốt rét tại khu vực Hướng Hoá năm 2025. Mục tiêu 2: Mô tả can thiệp và thách thức trong quản lý sốt rét liên quan di biến động biên giới tại Hướng Hoá.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu</strong>: Cắt ngang mô tả các ca sốt rét ghi nhận tại Hướng Hóa trong 10 tháng năm 2025.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Ghi nhận 47 ca, xuất hiện từ tháng 6-10; đỉnh tháng 8 (20 ca). Nam 55,3%; tuổi lao động 66,0%; dân tộc Vân Kiều 76,6%; làm rừng/rẫy 59,6%. <em>P. vivax</em> chiếm 93,7%; ca nội địa 63,8%, ca ngoại lai từ Lào 21,3%; có lây truyền tại chỗ, tập trung A Dơi. Can thiệp gồm điều tra ca bệnh chủ động phát hiện sớm, tăng cường phòng chống véc tơ, truyền thông và quản lý điều trị chặt (DOT), nhất là <em>P. vivax</em>.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Sốt rét Hướng Hóa năm 2025 gia tăng, chủ yếu ở nam >15 tuổi, làm rừng/rẫy và do <em>P. vivax</em>. Can thiệp có hiệu quả nhất định, nhưng di biến động biên giới, tuân thủ điều trị P. vivax dài ngày và hành vi phòng bệnh còn hạn chế cần phối hợp can thiệp liên tục.</p>Đàm Văn HàoNguyễn Công Trung DũngNguyễn Duy SơnPhan Minh Huấn
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4683KHẢO SÁT VI NẤM GÂY VIÊM ỐNG TAI NGOÀI TẠI KHOA TAI MŨI HỌNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRÀ VINH, NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4685
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ phân bố các giống vi nấm gây bệnh và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân bị viêm ống tai ngoài đến khám tại khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh.</p> <p><strong> Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện từ tháng 5/2025 đến 7/2025 trên bệnh nhân bị viêm ống tai ngoài đến khám tại khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh. Soi tươi dương tính với vi nấm hạt men khi phát hiện sợi tơ nấm giả và/hoặc rất nhiều tế bào hạt men; với vi nấm sợi tơ thấy sợi tơ nấm phân nhánh có vách ngăn. Định danh tác nhân vi nấm gây bệnh bằng hình thái học.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ viêm ống tai ngoài do vi nấm là 45,9%. Trong đó <em>Candida</em> spp. chiếm 50%, <em>Aspergillus</em> spp. chiếm 30,4%, <em>Trichophyton</em> spp. chiếm 4,4%, nhiễm phối hợp <em>Candida</em> spp. và <em>Aspergillus</em> spp. chiếm (15,2%). Bệnh nhân có triệu chứng ngứa tai và ù tai có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn lần lượt 2,29 lần và 1,91 lần so với nhóm không có các triệu chứng này (p < 0,05).</p> <p><strong> Kết luận: </strong>Tác nhân vi nấm chiếm tỷ lệ tương đối cao (45,9%) trong các trường hợp viêm ống tai ngoài. <em>Candida </em>spp. và <em>Aspergillus </em>spp. là nguyên nhân gây bệnh chủ yếu. Ngứa tai và ù tai là biểu hiện chính của bệnh.</p>Lý Khánh LinhTừ Nguyễn Xuân TrúcTrang Thị Hồng NhungNgô Anh DuyNguyễn Ngọc Thể
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4685TỶ LỆ, CƯỜNG ĐỘ NHIỄM MỘT SỐ LOÀI GIUN, SÁN TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TẠI HAI TỈNH KON TUM VÀ ĐẮK NÔNG, NĂM 2024
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4687
<p>Khu vực miền Trung - Tây Nguyên nhiễm một số bệnh giun sán chiếm tỷ lệ cao, bên cạnh nhóm giun truyền qua đất, một số giun sán truyền từ động vật sang người như sán lá gan lớn, sán lá nhỏ, sán dây bò…, được ghi nhận mắc nhiều tại một số địa phương, vì vậy đòi hỏi có một điều tra tổng thể để xác định tỷ lệ nhiễm các loài giun sán trong cộng đồng tại một số điểm có nguy cơ cao.</p> <p><strong>Mục tiêu</strong>: Xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm một số loài giun sán trên người tại các điểm nghiên cứu bằng kỹ thuật xét nghiệm phân Kato - Kazt.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu</strong>: Điều tra cắt ngang mô.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tỷ lệ nhiễm chung các loài giun, sán: Tại xã Đăk Môn 44,31%, xã Đăk Kroong 27,14%, xã Đắk Búk So 8,45%, xã Quảng Tâm 5,45%. Cường độ nhiễm nhóm giun truyền qua đất: Giun móc/mỏ 47,46 trứng/gram phân (huyện Đăk Glei: 79,4; huyện Tuy Đức 12,08), giun tóc: 1,50 (1,90; 1,01), giun đũa: 1,13 (1,50; 0,71). Cường độ nhiễm sán lá nhỏ tại xã Đăk Môn: 171,76 trứng/gram phân, xã Đăk Kroong: 23,38, xã Đắk Búk So: 3,1 trứng/gram phân.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Đã xác định được tỷ lệ, cường độ nhiễm một số loài giun sán trong cộng đồng dân cư tại hai xã Đăk Môn, Đăk Kroong (Đăk Glei) và xã Đắk Búk So, Quảng Tâm (Tuy Đức).</p>Trần Bình TrọngLý Chanh TyNguyễn Hữu GiáoNguyễn Thị Thanh TrầmNguyễn Thị DungNguyễn Hà Vi
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4687THÀNH PHẦN LOÀI NẤM ASPERGILLUS, PENICILLIUM Ở MỘT SỐ VỊ THUỐC CỔ TRUYỀN TẠI 3 CƠ SỞ KINH DOANH NỘI THÀNH HẢI PHÒNG NĂM 2024
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4688
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Xác định thành phần loài nấm <em>Aspergillus, Pencillium </em>ở một số vị thuốc cổ truyền tại 3 cơ sở kinh doanh nội thành Hải Phòng năm 2024.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang các chủng nấm <em>Aspergillus</em> và <em>Penicillium</em> thuần được chọn lọc từ các khuẩn lạc mọc trên môi trường DG18 phân lập từ vị thuốc cổ truyền . Chọn ngẫu nhiên 30 mẫu thực hiện kỹ thuật PCR và giải trình tự gen.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đa dạng thành phần loài và chiếm ưu thế là chi <em>Aspergillus </em>(24/30 chủng) trong đó <em>A. niger</em> (6/30 mẫu), tiếp theo là <em>A. chevalieri</em> và <em>P. citrinum</em> (4/30 mẫu). Nghiên cứu đã định danh thành công các loài có tiềm năng sinh độc tố cực mạnh như <em>Aspergillus flavus</em> (có khả năng sinh Aflatoxin) và đặc biệt là <em>Aspergillus steynii</em> – loài được báo cáo có khả năng sinh Ochratoxin A (OTA) cao gấp 1000 lần so với các loài thông thường. Cây phát sinh loài cho thấy các chủng nấm phân lập tại Hải Phòng có độ tương đồng trên 99-100% với các chủng chuẩn quốc tế trên GenBank.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Thành phần loài nấm trên vị thuốc cổ truyền tại nội thành Hải Phòng không chỉ đa dạng mà còn có nguy cơ tiềm tàng do hiện diện loài có khả năng sinh độc tố nấm mốc. Trong 30 chủng nấm phân lập từ vị thuốc cổ truyền có 24 chủng thuộc chi <em>Aspergillus</em>, 6 chủng thuộc chi <em>Penicillium. </em>Phân lập được 13 loài nấm trong đó <em>A</em><em>. niger</em> chiếm tỷ lệ cao nhất.</p>Bùi Thị Hồng ÁnhVõ Thị Thanh HiềnĐinh Thị Thanh MaiVũ Văn TháiNguyễn Thị Huyền Sương
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4688MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ PHÒNG CHỐNG SỐT RÉT CỦA NGƯỜI LA HỦ TẠI MƯỜNG TÈ, LAI CHÂU, NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4689
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về phòng chống sốt rét của người La Hủ tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, năm 2025. </p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang<strong>, </strong>tiến hành trên 400 người dân tộc La Hủ tham gia phỏng vấn. <em>Tại 3 xã Pa Vệ Sử, Tá Bạ, Pa Ủ huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu </em>từ tháng 1/2025 đến tháng 10/2025.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về phòng chống sốt rét của người La Hủ là người có trình độ học vấn từ phổ thông cơ sở trở xuống có nguy cơ không đạt kiến thức cao hơn 15,8 lần và nguy cơ thực hành sai cao hơn 21,59 lần so với người có trình độ cao hơn; Nghề làm nương rẫy có nguy cơ thực hành sai cao gấp 4,5 lần so với các nghề khác, phản ánh những thách thức từ môi trường sống và làm việc đặc thù. Người có kiến thức không đạt có nguy cơ thực hành sai cao gấp 46,6 lần so với nhóm có kiến thức đạt.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Trình độ học vấn có mối liên hệ rất mạnh với cả kiến thức và thực hành, đặc thù làm nương rẫy và thói quen không ngủ màn/vệ sinh môi trường làm tăng nguy cơ thực hành không đúng lên gấp nhiều lần.</p>Đinh Thị Thanh MaiBùi Thị Hồng ÁnhVũ Văn TháiVõ Thị Thanh HiềnNguyễn Thị Huyền Sương
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4689BÁO CÁO CA BỆNH NHIỄM ẤU TRÙNG DI CHUYỂN DO SỢI TÓC Ở BÀN CHÂN TRẺ EM
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4690
<p>Giả ấu trùng di chuyển ở da là một bệnh thường gặp ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, nguyên nhân thường do các ấu trùng giun tròn. Bệnh đặc trưng bởi các tổn thương da dạng đường ngoằn ngoèo, ban đỏ, ngứa, do sự xâm nhập và di chuyển của ấu trùng giun trong da. Bài báo này báo cáo một trường hợp bệnh nhi nam 2 tuổi, sống tại Thủ Dầu Một, TP Hồ Chí Minh, với tổn thương da dạng vệt đỏ ngoằn ngoèo, giống hình ảnh giả ấu trùng di chuyển và nhập viện ở Khoa truyền nhiễm, Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh. Tổn thương dài khoảng 3,5 cm, tại một đầu có một đoạn màu đen ngắn. Kết quả mô bệnh học và soi kính hiển vi cho thấy tổn thương không phải do ấu trùng ký sinh mà do một mảnh sợi tóc cắm dưới da. Các mảnh sợi tóc xuyên vào da có thể gây ra nhiều biểu hiện lâm sàng khác nhau và hình ảnh đặc biệt nhất là giả ấu trùng di chuyển. Các bác sĩ lâm sàng cần thăm khám và phân tích bệnh phẩm cẩn thận để chẩn đoán chính xác và điều trị kịp thời.</p>Trần Thị Huệ VânNguyễn Thanh Liêm
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4690GIA TĂNG LAN TRUYỀN SỐT RÉT DO Plasmodium falciparum ĐE DOẠ MỤC TIÊU LOẠI TRỪ SỐT RÉT VIỆT NAM: CẢNH BÁO SỚM TỪ KHÁNH VĨNH, TỈNH KHÁNH HOÀ NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4691
<p><strong>TÓM TẮT</strong></p> <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Sau giai đoạn gia tăng sốt rét từ 7/2023, lây truyền tạm thời bị gián đoạn vào đầu năm 2025 tại Khánh Vĩnh. Tuy nhiên, sốt rét quay trở lại chủ yếu do <em>Plasmodium falciparum</em> vào 5-6/2025, đe dọa mục tiêu loại trừ sốt rét.</p> <p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả sự gia tăng và đánh giá sự thay đổi đặc điểm lan truyền của <em>P.</em><em> falciparum</em> tại Khánh Vĩnh sau giai đoạn kiểm soát.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả, dựa trên hồi cứu số liệu 2022-2025 và nghiên cứu cắt ngang tại xã Khánh Đông và Khánh Thượng vào tháng 7/2025, tập trung ở nhóm nguy cơ cao mắc sốt rét. Khám lâm sàng, xét nghiệm lam máu và phỏng vấn có cấu trúc được sử dụng để đánh giá.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tổng cộng 408 đối tượng nguy cơ được sàng lọc tại xã Khánh Thượng và Khánh Đông, phát hiện 12 ca bệnh (2,94%). Tỷ lệ dương tính tại Khánh Thượng là 4,57% và Khánh Đông là 1,06%. 91,67% ca bệnh do <em>P. falciparum</em>, 50% không triệu chứng và 58,33% có giao bào, mật độ trung bình 3.606 ký sinh trùng/µl. Ghi nhận <em>P. falciparum</em> tập trung ở Khánh Thượng, cảnh báo thay đổi không gian lây truyền.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Sự gia tăng và thay đổi lan truyền <em>P. falciparum</em> tại Khánh Vĩnh, đặc biệt sốt rét không triệu chứng đe dọa mục tiêu loại trừ sốt rét. Cần tăng cường giám sát và can thiệp có mục tiêu khẩn cấp.</p>Nguyễn Công Trung DũngĐàm Văn HàoNguyễn Duy SơnNguyễn Thị Thanh TrầmBùi Thị Ngọc BíchTrình Hoàng Vỹ Cao Thị Khánh ThưTô Ngọc HảiĐỗ Thị Trúc QuỳnhĐặng Thị Hoài ThuHồ Văn HoàngHuỳnh Hồng Quang
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4691NHIỄM NẤM CANDIDA ĐƯỜNG TIẾT NIỆU Ở BỆNH NHÂN ĐẶT SONDE TIỂU TẠI ĐƠN VỊ CHĂM SÓC TÍCH CỰC (ICU): NGHIÊN CỨU MÔ TẢ CẮT NGANG TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y – DƯỢC HUẾ
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4692
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Nhiễm nấm <em>Candida</em> đường tiết niệu là tình trạng gặp phổ biến ở bệnh nhân điều trị tại đơn vị ICU, đặc biệt bệnh nhân đặt sonde tiểu. Mặc dù <em>C. albicans</em> là loài phổ biến nhất phân lập từ đường tiết niệu, nhưng sự gia tăng tỷ lệ do các loài non-<em>albicans Candida</em> cũng được báo cáo gần đây.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> 1. Xác định tỷ lệ nhiễm nấm <em>Candida</em> tiết niệu của bệnh nhân đặt sonde tiểu điều trị tại đơn vị ICU, Bệnh viện Trường Đại học Y-Dược Huế. 2. Định danh loài <em>Candida</em> spp. phân lập được từ bệnh phẩm nước tiểu.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thực hiện trên 47 bệnh nhân đặt sonde tiểu đang điều trị tại đơn vị ICU, khoa Gây mê – Hồi sức – Cấp cứu – Chống độc, Bệnh viện Trường Đại học Y-Dược Huế trong thời gian 05/2024 đến 05/2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ nhiễm nấm <em>Candida </em>tiết niệu là 63,8% và tỷ lệ mẫu có số đơn vị khúm nấm <em>Candida</em> ≥ 10<sup>3 </sup>CFU/ml là 57,4%. Kết quả có 5 loài <em>Candida</em> phân lập được. Trong đó <em>C. tropicalis</em> chiếm tỷ lệ cao nhất (45,5%), tiếp theo là <em>Candida albicans</em> (33,3%) và các loài non<em>-albicans</em> <em>Candida</em> khác chiếm tỷ lệ 21,2%. Có 86,7% mẫu bệnh phẩm nước tiểu phân lập được 1 loài vi nấm và 13,3% phân lập được 2 loài vi nấm.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> <em> </em>non<em>- albicans Candida</em> có tỷ lệ cao hơn <em>C. albicans</em> trong bệnh phẩm nước tiểu ở bệnh nhân đặt sonde tiểu điều trị tại ICU (66,7% và 33,3%), trong đó loài phổ biến nhất là <em>C. tropicalis</em>.</p>Lê Anh ThưTrần Thị GiangPhạm Nhật MinhTôn Nữ Phương AnhTrương Thị HuyềnTrần Thị Bích ThảoNgô Thị Minh Châu
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4692NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG NHIỄM CANDIDA HUYẾT TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4693
<p><strong>Đặt vấn đề</strong>: Nhiễm nấm <em>Candida</em> huyết là nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm nấm xâm lấn tại bệnh viện, đặc biệt ở bệnh nhân ICU, người cao tuổi, nhiều bệnh nền hoặc suy giảm miễn dịch. Tỷ lệ tử vong cao, tình trạng kháng thuốc kháng nấm đặt ra thách thức trong điều trị. Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và phân tích yếu tố liên quan đến kết quả điều trị bệnh nhân <em>Candida</em> huyết.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu</strong>: Mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 34 bệnh nhân có cấy máu dương tính với <em>Candida</em> từ 01/10/2024 – 30/9/2025.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>nam giới chiếm 73,5%; tuổi trung bình của bệnh nhân là 65,3 ± 16,7. Bệnh lý nền hay gặp bao gồm tim mạch (52,9%), đái tháo đường (50%), tiền sử tai biến mạch máu não (26,5%), suy thận mạn (20,6%). Đại đa số bệnh nhân (70,6%) được điều trị tại ICU. Triệu chứng lâm sàng hay gặp bao gồm sốt (85,3%), viêm phổi (79,4%), sốc nhiễm trùng (47,1%), suy hô hấp (38,2%). Tổn thương trên phim X quang phổi chủ yếu dạng kẽ (44,1%), đám mờ (14,7%). Các loài <em>Candida</em> phân lập được chủ yếu là <em>C. tropicalis</em> (26,5%), <em>C. parapsilosis</em> (23,5%), <em>C. albicans</em> (29,4%). Kết quả điều trị khỏi (29,4%), tử vong (14,7%), nặng thêm (23,5%).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Nhiễm <em>Candida</em> huyết chủ yếu xảy ra ở bệnh nhân ICU, cao tuổi, nhiều bệnh nền, với biểu hiện lâm sàng nặng. <em>Candida non – albicans</em> chiếm ưu thế (70,6%). Phát hiện sớm yếu tố nguy cơ, chẩn đoán kịp thời, lựa chọn kháng nấm phù hợp và kiểm soát nhiễm khuẩn để giảm biến chứng và tử vong.</p>Ngô Anh ThếTrần Thị LiênLại Thị QuỳnhNguyễn Văn Lập
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4693THAY ĐỔI TỔN THƯƠNG GAN DO SÁN LÁ GAN LỚN TRÊN SIÊU ÂM TẠI VIỆN SỐT RÉT - KÝ SINH TRÙNG - CÔN TRÙNG QUY NHƠN
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4694
<p><strong>Giới thiệu</strong><strong>:</strong> Bệnh sán lá gan lớn ở người là một trong những bệnh ký sinh trùng bị lãng quên, hiện đang nổi và tái nổi với tỉ lệ nhiễm tăng dần ở một số vùng trên thế giới và Việt Nam là một trong những nước có tỉ lệ nhiễm cao nhất. Siêu âm B-mode giúp chẩn đoán và theo dõi quá trình hồi phục sau điều trị đặc hiệu, song chưa đánh giá được độ xơ hóa (độ cứng) nhu mô gan và thương tổn trên cả hệ gan-mật trong khi nhiễm Fasciola spp. Siêu âm đàn hồi mô gan là một công cụ hiện đại dùng để đánh giá mức độ xơ hóa gan (độ cứng) tổn thương, giúp theo dõi sự hồi phục tổn thương trên hệ gan mật. Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá sự thay đổi của tổn thương hệ gan-mật do Fasciola spp. trên siêu âm B-mode và đàn hồi mô, theo dõi tình trạng xơ hóa nhu mô gan trước và sau điều trị thông qua sự thay đổi độ cứng nhu mô gan.</p> <p><strong>Phương pháp</strong><strong>: </strong>Một thiết kế mô tả cắt ngang trên loạt ca bệnh để mô tả đặc điểm tổn thương gan-mật do sán lá gan lớn trên siêu âm và đánh giá sự thay đổi của tổn thương gan-mật do sán lá gan lớn trước và sau điều trị triclabendazole 20mg/kg. Nghiên cứu ghi nhận 40 trường hợp nhiễm Fasciola spp. có tổn thương gan trên siêu âm và mô tả đặc điểm tổn thương gan-mật, bao gồm độ xơ hóa gan, trước và sau điều trị 1, 3 tháng.</p> <p><strong>Kết quả</strong><strong>: </strong>Vị trí tổn thương do Fasciola spp. hay gặp ở gan phải (62,5%) hơn gan trái (27,5%) và cả hai (10%), số ổ áp xe gan chiếm cao nhất là 1 ổ (50%) và 2 ổ (40%), đường kính khối tổn thương 30-70 cao nhất (65%), tính chất hồi âm tổn thương thường gặp là hỗn hợp âm dạng điển hình gồm giảm âm ưu thế, kèm tăng âm và trống âm (60%), thấp hơn là hỗn hợp âm không điển hình (giảm âm kèm tăng âm) chiếm 30%, ít gặp nhất là tổn thương giảm âm (10%). Đo đàn hồi đánh giá độ cứng (xơ hóa) của tổn thương do Fasciola spp. theo Metavir với mức F2 chiếm tỉ lệ cao (82,5%), kế đến là F1 (17,5%) trong khi độ cứng vùng không tổn thương gan đa số ở F0 (92,68%), F1 chiếm tỉ lệ thấp (7,32%). Sau điều trị 1 và 3 tháng, số ổ tổn thương, kích thước tổn thương hầu hết đều giảm. Tính chất hồi âm của tổn thương chuyển dạng từ hỗn hợp âm với giảm âm ưu thế chuyển sang tăng âm sau 3 tháng điều trị. Độ cứng tổn thương đã thay đổi trong quá trình điều trị: sau 1 tháng, độ cứng vùng tổn thương gan từ mức F2 (82,5%), F1 (17,5%) đã chuyển sang F3 (85%) và F4 (7,5%), F2 (7,5%); sau 3 tháng, độ cứng F4 tăng lên (30%), F3 vẫn chiếm tỉ lệ cao (70%). Điều này chứng tỏ có sự xơ hóa gan ở các vùng tổn thương do Fasciola spp. trong giai đoạn hồi phục.</p> <p><strong>Kết luận</strong><strong>:</strong> Siêu âm đàn hồi mô gan kết hợp B-mode hỗ trợ chẩn đoán, phân biệt tổn thương gan do Fasciola spp. dạng không điển hình với các tổn thương gan khác chính xác hơn. Trong giai đoạn hồi phục, sự xơ hóa vùng gan tổn thương cần được theo dõi.</p>Triệu Thị Phương MaiNguyễn Đức ChínhTrần Thị Huệ VânHuỳnh Hồng QuangLê Thị Bình LâmHuỳnh Hồng QuangHồ Văn Hoàng
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4694TỶ LỆ NHIỄM , LOÀI NẤM MEN PHÂN LẬP TỪ CÁC BỆNH PHẨM NUÔI CẤY TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103 (1/2023 – 3/2025)
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4695
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả tỷ lệ nhiễm và đặc điểm các loài nấm men phân lập được từ các bệnh phẩm tại Bệnh viện Quân y 103 trong giai đoạn từ tháng 1/2023 đến tháng 3/2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu được tiến hành từ ngày 01/01/2023 đến 30/3/2025 trên 511 bệnh nhân được chỉ định xét nghiệm cấy nấm tại Bệnh viện Quân y 103. Các kỹ thuật chẩn đoán bao gồm nuôi cấy trên môi trường Sabouraud và xác định loài <em>Candida</em> trên môi trường CHROMagar™ <em>Candida</em>.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong tổng số 511 bệnh nhân, có 199 trường hợp dương tính, chiếm tỷ lệ 38,9%. Nhóm tuổi ≥ 56 có tỷ lệ dương tính cao nhất (42,8%) với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,02). Nấm men chiếm ưu thế với 158 mẫu, trong đó chi <em>Candida</em> chiếm tỷ lệ cao nhất (95,5%). Các loài nấm men phổ biến nhất bao gồm: <em>C. albicans</em> (45,5%), <em>C. tropicalis</em> (30,3%) và <em>C. krusei</em> (20,1%). Đáng chú ý, nghiên cứu ghi nhận 1,2% trường hợp nhiễm <em>Talaromyces marneffei</em> từ bệnh phẩm chất nạo giác mạc ở bệnh nhân không suy giảm miễn dịch. Tỷ lệ nấm phân lập từ bệnh phẩm đường hô hấp chiếm đa số (77%).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Cần thực hiện định danh chính xác loài nấm gây bệnh để có định hướng điều trị và quản lý kháng nấm hiệu quả hơn.</p>Nguyễn Thị VânNguyễn Thị DuyênĐỗ Ngọc Ánh
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4695KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH ENZYME CỦA MỘT SỐ LOÀI NẤM CANDIDA SPP. ĐƯỢC PHÂN LẬP TỪ BỆNH NHÂN NẤM MÓNG TẠI THÀNH PHỐ HUẾ
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4778
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá khả năng sinh enzyme protease, phospholipase và lipase của các loài vi nấm <em>Candida albicans</em>, <em>Candida tropicalis</em>, <em>Candida parapsilosis</em> gây bệnh nấm móng.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 90 chủng <em>Candida</em> bao gồm <em>C. albicans</em>, <em>C. tropicalis</em> và <em>C. parapsilosis</em> phân lập từ bệnh nhân nấm móng được định danh bằng thử nghiệm đồng hóa đường với kit API 20C (bioMerieux - Vitek, France). Khả năng sinh enzyme protease, phospholipase và lipase được đánh giá bằng kỹ thuật cấy điểm trên các môi trường chuyên biệt theo các công bố trước đó.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ sinh enzyme protease, lipase và phospholipase của <em>Candida </em>spp. lần lượt là 82,2%; 77,8% và 36,7%. <em>C. albicans</em> và <em>C. tropicalis</em> đều biểu hiện khả năng sinh enzyme protease và lipase ở mức rất cao với tỷ lệ lần lượt là 100% và 96,7%, <em>C. parapsilosis</em> chủ yếu không sinh enzyme hoặc hoạt động enzyme ở mức thấp (p<0,001). Cả ba loài đều có khả năng sinh enzyme phospholipase thấp, tuy nhiên <em>C. albicans</em> vẫn có tỷ lệ sinh enzyme cao hơn so với hai loài còn lại (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p<0,001). Hầu hết các thể bệnh lâm sàng nấm móng do <em>Candida</em> có xuất hiện khả năng sinh enzyme protease và lipase với tỷ lệ cao, tuy nhiên sự khác biệt giữa các nhóm không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Ngược lại, khả năng sinh enzyme phospholipase có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các biểu hiện lâm sàng (p<0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> <em>Candida</em> spp. gây bệnh nấm móng có tỷ lệ cao sinh các enzyme như protease và lipase. Trong khi đó tỷ lệ sinh enzyme phospholipase thấp nhưng có liên quan đến các thể bệnh lâm sàng thương tổn xâm lấn móng.</p>Tôn Thất Đông DươngĐỗ Thị Bích ThảoVõ Minh TiếpTôn Nữ Phương AnhNgô Thị Minh Châu
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4778SO SÁNH GIÁ TRỊ CHẨN ĐOÁN NHIỄM SÁN LÁ GAN Opisthorchis viverrini CỦA TEST NHANH OV ANTIGEN VỚI XÉT NGHIỆM TẬP TRUNG FORMALIN-ETHYL ACETATE TẠI HUYỆN ĐĂK GLEI, KON TUM, NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4779
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Sán lá gan nhỏ (<em>Opisthorchis viverrini</em>) là bệnh ký sinh trùng liên quan chặt chẽ đến ung thư đường mật. Tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên, bệnh vẫn còn lưu hành; tuy nhiên, dữ liệu dịch tễ tại địa phương còn hạn chế. Test nhanh phát hiện kháng nguyên trong nước tiểu (OV Antigen RDT) cho thấy tiềm năng ứng dụng trong sàng lọc cộng đồng. <strong>Mục tiêu:</strong> (1) Xác định tỷ lệ nhiễm <em>O. viverrini</em> bằng kỹ thuật FECT tại huyện Đăk Glei (Kon Tum) năm 2025; (2) Bước đầu so sánh một số chỉ số chẩn đoán của test nhanh OV Antigen với FECT. <strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang mô tả kết hợp so sánh chẩn đoán. Tổng cộng 403 người ≥5 tuổi được thu thập mẫu phân để xét nghiệm FECT. Trong nghiên cứu so sánh, 49 ca FECT dương tính và 40 mẫu FECT âm tính được chọn ngẫu nhiên để thực hiện test nhanh OV Antigen trên mẫu nước tiểu. FECT được xem là tiêu chuẩn tham chiếu. <strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ nhiễm <em>O. viverrini</em> bằng FECT là 12,2% (49/403), ở mức độ nhẹ (<1.000 trứng/g phân), với mật độ trung bình 49,15 ± 25,20 trứng/g. Tỷ lệ nhiễm cao hơn ở nam giới (18,2%; OR = 2,41); cao nhất ở nhóm tuổi 16–59 (15,3%); và tại xã Đăk Môn (OR = 2,88). Test nhanh OV Antigen cho độ nhạy 100%, độ đặc hiệu 75%, độ chính xác 88,8% và hệ số Kappa = 0,77 (p < 0,0001). <strong>Kết luận:</strong> <em>O. viverrini</em> vẫn lưu hành tại huyện Đăk Glei. Test nhanh OV Antigen cho độ nhạy cao và mức độ đồng thuận tốt với FECT, cho thấy tiềm năng ứng dụng trong sàng lọc cộng đồng và giám sát dịch tễ tại các vùng nguy cơ.</p>Nguyễn Thị DungTrần Bình TrọngNguyễn Đức ChínhNguyễn Thị Thanh QuyênLê Thị Bình LâmArporn WangwiwatsinPaiboon SithithawornWatcharin LoilomeHuỳnh Hồng QuangNguyễn Thị Liên Hạnh
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4779CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH TOXOPLASMOSIS Ở NGƯỜI NHIỄM HIV TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP TỪ Y VĂN ĐẾN THỰC HÀNH LÂM SÀNG
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4780
<p>Nhiễm trùng <em>Toxoplasma gondii </em>là một trong những nhiễm trùng cơ hội thường gặp và nguy hiểm ở bệnh nhân nhiễm HIV, đặc biệt khi số lượng tế bào CD4 < 100 tế bào/mm³. Bệnh thường biểu hiện dưới dạng viêm não do <em>Toxoplasma gondii</em>, gây tỷ lệ tử vong và di chứng thần kinh cao nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Việc chẩn đoán <em>bệnh nhiễm Toxoplasma gondii</em> ở người nhiễm HIV còn gặp nhiều thách thức do biểu hiện lâm sàng không đặc hiệu, hạn chế về phương tiện chẩn đoán chuyên sâu và sự chồng lấp với các bệnh lý thần kinh khác. Bài báo này nhằm tổng quan các bằng chứng y văn hiện nay về chẩn đoán và điều trị bệnh nhiễm trùng do <em>Toxoplasma gondii</em> ở bệnh nhân HIV, đồng thời bàn luận việc áp dụng vào thực hành lâm sàng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp.</p>Ngô Anh ThếLê Thị Thanh HòaTrần Thị Liên
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4780THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NHIỄM GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT Ở NGƯỜI DÂN 2 – 65 TUỔI HUYỆN BÌNH LIÊU VÀ THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH, NĂM 2023
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4781
<p>Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ nhiễm giun chung là 11,9 %, trong đó nhiễm giun tóc là cao nhất với 6,25%, tiếp đến là giun đũa 3,75%, thấp nhất là giun móc/mỏ 1,9%. Tỷ lệ nhiễm giun tập trung chủ yếu ở độ tuổi > 15, độ tuổi < 15 không phát hiện trường hợp nhiễm giun nào. Tỷ lệ nhiễm giun ở nữ cao hơn nam ở cả thị xã Quảng Yên và Huyện Bình Liêu. Những người không sử dụng bảo hộ lao động, thường xuyên uống nước lã có tỷ lệ nhiễm giun cao hơn so với nhóm người dùng bảo hộ lao động và không uống nước lã. Người không rửa tay thường xuyên trước khi ăn và sau đại tiện có tỷ lệ nhiễm giun cao hơn (60,4% so với 1,2%), người có sử dụng hố xí hợp vệ sinh có tỷ lệ nhiễm giun thấp hơn những người không sử dụng hố xí hợp vệ sinh (2,1% so với 68,6%), những người thường xuyên uống thuốc tẩy giun định kỳ có tỷ lệ nhiễm giun thấp hơn những người không uống (0,6% so với 65%)<em>. </em>Cần xây dựng kế hoạch can thiệp tẩy giun cho người dân trên toàn địa bàn tỉnh, đồng thời truyền thông, tư vấn cho người dân kiến thức về các bệnh giun truyền qua đất.</p>Vũ Quyết ThắngBùi Xuân LâmNguyễn Thị Bích HườngNguyễn Thành CôngĐỗ Phương AnhVũ Thị Tươi
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4781MÔ HÌNH NGUY CƠ LÂY NHIỄM MẦM BỆNH SÁN LÁ GAN NHỎ CLONORCHIS SINENSIS LIÊN QUAN ĐẾN LOÀI ỐC NƯỚC NGỌT PARAFOSSARULUS MANCHOURICUS TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4783
<p><strong>Mục tiêu</strong>: Loài ốc nước ngọt <em>Parafossarulus manchouricus</em> là mắt xích sinh học quan trọng nhất trong chu trình lây truyền bệnh sán lá gan nhỏ (<em>Clonorchis sinensis</em>), một vấn đề y tế công cộng cấp bách tại Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố sinh khí hậu giới hạn sự phân bố của loài và xây dựng bản đồ nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh kí sinh trùng trên <em>P. manchouricus</em> dựa trên tiếp cận mô hình hóa sinh thái.</p> <p><strong>Phương pháp</strong>: Chúng tôi áp dụng phương pháp mô hình hóa phân bố loài tích hợp (Ensemble Species Distribution Modelling - SDM), kết hợp bốn thuật toán học máy (Maxnet, GLM, MARS, Random Forest) để phân tích dữ liệu từ 279 điểm ghi nhận loài tại miền Bắc Việt Nam và các biến số sinh khí hậu.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Mô hình đạt độ tin cậy cao với chỉ số AUC = 0,983. Kết quả chỉ ra rằng sự phân bố của <em>P. manchouricus</em> bị chi phối mạnh mẽ bởi ba yếu tố: Dao động nhiệt độ ngày (Bio2), Nhiệt độ thấp nhất của tháng lạnh nhất (Bio6), và lượng mưa tháng khô nhất (Bio14). Nghiên cứu được thử nghiệm ở khu vực miền Bắc Việt nam vơi vùng nguy cơ cao (hotspots) được xác định tập trung tại dải ven biển thuộc Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ, bao gồm các tỉnh Ninh Bình, Hải Phòng và Quảng Ninh, với tổng diện tích vùng lõi ước tính khoảng 11.490 km².</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Bản đồ nguy cơ lây nhiễm cung cấp cơ sở khoa học định lượng để các cơ quan y tế dự phòng xác định các "điểm nóng" cần ưu tiên giám sát. Chiến lược kiểm soát cần tập trung vào việc quản lý môi trường ao nuôi và áp dụng các biện pháp sinh học tại các vùng có chỉ số phù hợp sinh thái cao để ngăn chặn chu trình lây nhiễm sang người.</p>Lê Quang TuấnTrần Anh TuấnNguyễn Văn HàNguyễn Ngọc BíchNguyễn Mạnh Hùng
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4783THỰC TRẠNG VÀ KIẾN THỨC THỰC HÀNH VỀ BỆNH LANG BEN Ở NGƯỜI BỆNH TẠI TRUNG TÂM DA LIỄU HẢI PHÒNG NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4784
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ nhiễm nấm lang ben của các bệnh nhân có thương tổn lâm sàng đến khám tại Trung tâm da liễu Hải Phòng năm 2025. Và mô tả kiến thức, thực hành về bệnh lang ben của đối tượng nghiên cứu.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 288 bệnh nhân tại Trung tâm Da liễu Hải Phòng. Dữ liệu được thu thập qua khám lâm sàng, xét nghiệm nấm trực tiếp bằng dung dịch KOH 10% để chẩn đoán nấm lang ben<em>,</em> cùng với phỏng vấn KAP.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ bệnh lang ben của các bệnh nhân có thương tổn lâm sàng đến khám tại Trung tâm da liễu Hải Phòng là 35,8%. Bệnh lang ben cao nhất ở nhóm trẻ em < 10 tuổi và nhóm tuổi lao động 20-39 tuổi (cùng chiếm 27,2%). Về kiến thức: 69,7% đối tượng nghiên cứu biết về tác nhân gây bệnh và 94,2% nhận biết triệu chứng của bệnh là ngứa, tuy nhiên các triệu chứng khác của bệnh (ngứa tăng khi đổ mồ hôi: 23,2%; thay đổi sắc tố/vị trí: 48,5%) còn thấp; kiến thức về phòng ngừa đạt 64,7%, trong đó kiến thức về việc không mặc chung quần áo chiếm ưu thế (97,5%). Về thực hành: 40,7% đối tượng nghiên cứu vẫn mặc chung quần áo và chỉ 8,3% duy trì tắm sau khi tập thể dục, tỷ lệ sử dụng xà phòng khi tắm đạt 78,4%.</p>Nguyễn Thị Huyền SươngVũ Văn TháiVõ Thị Thanh HiềnBùi Thị Hồng ÁnhĐỗ Thị Ngọc
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4784ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH SỐT RÉT CỦA NGƯỜI DÂN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI KHU VỰC KHÁNH VĨNH, TỈNH KHÁNH HÒA NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4785
<ul> <li class="show"> <p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Tại khu vực Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, số ca mắc gia tăng rõ rệt trong giai đoạn 2021–2024, cho thấy nguy cơ bùng phát dịch vẫn còn hiện hữu. Trong bối cảnh đó, việc đánh giá đáp ứng miễn dịch sốt rét của cộng đồng có ý nghĩa quan trọng, góp phần phản ánh mức độ phơi nhiễm với ký sinh trùng và hỗ trợ xây dựng các biện pháp phòng chống phù hợp.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ người dân có kháng thể kháng sốt rét bằng phương pháp ELISA và một số yếu tố liên quan tại địa bàn nghiên cứu.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang tại hai xã Tây Khánh Vĩnh và Nam Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa vào tháng 8 năm 2025, 1.364 người dân được lấy mẫu huyết thanh để xét nghiệm ELISA.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong tổng số 1.364 mẫu huyết thanh được xét nghiệm, phát hiện 544 trường hợp có kháng thể kháng sốt rét (39,9%). Tỷ lệ ELISA dương tính ở nam (40,2%) tương đương với nữ (39,7%). Tỷ lệ ELISA dương tính thấp nhất ghi nhận ở nhóm dưới 15 tuổi (7,9%) và tăng dần ở nhóm trên 15 đến dưới 30 tuổi (39,4%); 52,7% ở nhóm trên 30 đến dưới 45 tuổi và cao nhất ở nhóm trên 45 tuổi (71%). Đối tượng nghiên cứu có tiền sử mắc sốt rét có tỷ lệ ELISA dương tính là 68%, cao hơn rõ rệt so với nhóm không có tiền sử mắc sốt rét (35,8%).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Tỷ lệ đối tượng có kháng thể kháng <em>Plasmodium </em>spp. trong quần thể nghiên cứu vẫn ở mức tương đối cao (39,9%), cần có các biện pháp truyền thông và phòng chống sốt rét cho các nhóm đối tượng có nguy cơ cao trong cộng đồng.</p> </li> </ul>Nguyễn Đức LongNguyễn Thị Thùy DươngVũ Thị SangĐặng Thị Tuyết MaiTrần Tuyết MaiNguyễn Thị Hạnh
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4785THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BỆNH NẤM Ở DA CỦA BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI TRUNG TÂM DA LIỄU HẢI PHÒNG NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4786
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Xác định tỷ lệ nhiễm nấm ở da và các cơ quan phụ cận (tóc, móng) của các bệnh nhân có tổn thương lâm sàng nghi nhiễm nấm da tại Trung tâm Da liễu Hải Phòng năm 2025, mô tả một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ bệnh nấm ở da và cơ quan phụ cận ở đối tượng nghiên cứu.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang<strong>, </strong>tiến hành trên 394 bệnh nhân có tổn thương lâm sàng nghi nhiễm nấm da tại Trung tâm Da liễu Hải Phòng năm 2025 từ tháng 10/2025 đến tháng 12/2025.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm nấm ở da và các cơ quan phụ cận là 64%. Nam nhiễm nấm cao hơn nữ (58,7% so với 41,3%). Nhóm tuổi nhiễm nấm chiếm tỷ lệ cao nhất là 20 - 39 tuổi với 32,5%. Nhóm nghề nghiệp khác có tỷ lệ nhiễm nấm cao nhất chiếm 42,9%. Khảo sát các yếu tố liên quan cho thấy, người có cơ địa da dầu; người có tình trạng tăng tiết mồ hôi có nguy cơ nhiễm nấm cao gấp 2,2 lần và 1,67 lần so với các đối tượng khác. Các yếu tố hành vi và môi trường như dùng chung quần áo, nuôi chó mèo làm tăng nguy cơ nhiễm nấm khoảng 1,8 lần. Những bệnh nhân có tiếp xúc trực tiếp hoặc trong gia đình có người mắc nấm da có nguy cơ nhiễm bệnh cao hơn 2,2 lần so với nhóm không có yếu tố này.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Tỷ lệ nhiễm nấm ở da và các cơ quan phụ cận cao (64%), gặp chủ yếu ở nam, nhóm tuổi 20–39 và nhóm nghề nghiệp khác. Cơ địa da dầu, tăng tiết mồ hôi, tiếp xúc gần với người bệnh, thói quen sử dụng chung đồ dùng cá nhân và việc nuôi thú cưng là những yếu tố liên quan làm gia tăng nguy cơ nhiễm nấm ở da và các cơ quan phụ cận.</p>Vũ Văn TháiBùi Thị Hồng ÁnhĐinh Thị Thanh MaiVõ Thị Thanh HiềnNguyễn Thị Huyền SươngCao Hải Anh
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4786ĐÁNH GIÁ SỰ PHÂN BỐ MẬT ĐỘ VÀ Ổ BỌ GẬY NGUỒN CỦA MUỖI Ae aegyti, Ae albopictus VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI QUẢNG NINH, NĂM 2022
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4787
<p>Kết quả nghiên cứu cho thấy sự có mặt của 2 loài muỗi <em>Aedes</em> tại Quảng Ninh với tỉ lệ muỗi <em>Ae. Albopictus</em> 82,2% cao hơn nhiều so với muỗi <em>Ae. aegypti</em> 17,8%. Muỗi <em>Ae. Aegypti </em>tất cả được tìm thấy trong nhà với số lượng 35 cá thể. Muỗi <em>Ae. Albopictus</em> được tìm thấy trong nhà với 49 cá thể (30,2%). Tìm thấy muỗi <em>Ae. Albopictus</em> ở ngoài nhà là 113 cá thể (69.8%). Sự phân bố mật độ muỗi, bọ gậy của 2 loài muỗi <em>Aedes</em> có sự khác nhau. Mật độ bọ gậy và muỗi đều có tại các tháng từ tháng 4 –11. Còn từ tháng 8-10 là thời gian các chỉ số của loài Aedes cao nhất (BI = 57, MĐM = 0,5 con/nhà). Dụng cụ chứa nước có bọ gậy <em>Aedes</em> nhiều nhất là xô, thùng chiếm 31,3%, dụng cụ phế thải 26,6%, còn lại là các dụng cụ chứa nước khác. Cần theo dõi, giám sát và đánh giá chỉ số véc tơ sốt xuất huyết dengue vào các tháng cao điểm, đặc biệt các tháng 8 – 10. Định kỳ cần tổ chức các đợt tiêu diệt ổ bọ gậy, đồng thời tuyên truyền, nâng cao ý thức cho người dân về các biện pháp phòng chống bệnh sốt xuất huyết dengue. </p>Vũ Quyết ThắngNguyễn Thị Bích HườngBùi Xuân LâmNguyễn Thành CôngVũ Thị TươiHoàng Mai Chi
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4787NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA NHIỄM GIUN SÁN VỚI BẠCH CẦU ÁI TOAN VÀ IMMUNOGLOBULIN E TOÀN PHẦN Ở BỆNH NHÂN CÓ HUYẾT THANH DƯƠNG TÍNH VỚI CÁC LOẠI GIUN SÁN
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4788
<p><strong>Giới thiệu</strong>: Bệnh do giun sán là bệnh ký sinh trùng thường gặp ở người, đặc biệt là các loại giun sán truyền từ động vật sang người, gây hại trực tiếp đến con người. Trước sự xâm nhập của ký sinh trùng, khi bị nhiễm, cơ thể con người xuất hiện nhiều phản ứng vừa là hậu quả của hiện tượng ký sinh vừa là cơ chế chống lại ký sinh trùng, dưới những thay đổi ở tế bào, mô và huyết thanh như tăng bạch cầu, tăng bạch cầu ái toan và tăng imunoglobulin E (IgE) toàn phần. Mục tiêu nghiên cứu là xác định tỷ lệ tăng bạch cầu ái toan và kháng thể IgE toàn phần ở người có huyết thanh dương tính với các loại giun sán và đánh giá mối liên quan giữa nhiễm giun sán với bạch cầu ái toan và IgE toàn phần.</p> <p><strong>P</strong><strong>hương pháp</strong>: Một nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện từ 01/2023 đến 11/2023 trên 503 bệnh nhân có kết quả xét nghiệm huyết thanh dương tính với các loại giun sán tại phòng khám Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tất cả nhóm bệnh nhân dương tính với các giun sán đều có tỷ lệ IgE toàn phần dương tính cao > 80%, trong đó dương tính với <em>Toxocara canis </em>cao nhất 86,8%, dương tính với <em>Echinococcus</em> sp. thấp nhất 75,8%. Bệnh nhân dương tính với giun sán ở nhóm > 60 tuổi có tỷ lệ IgE toàn phần dương tính cao nhất với 91,7%, nhưng nồng độ trung bình IgE toàn phần cao nhất ở nhóm 6-15 tuổi với 912,8 IU/ml. Tỷ lệ tăng bạch cầu ái toan của các nhóm bệnh nhân nghiên cứu không cao, ở hầu hết các loại giun sán đều < 50%, trong đó dương tính với <em>Cysticercus</em> <em>cellulosae</em> cao nhất 59,8% (70/117), dương tính với <em>Strongloides stercoralis</em> thấp nhất 27,9% (36/129). Tỷ lệ bạch cầu ái toan từ 6-20% gặp nhiều nhất chiếm 38,17% và có 10,14% trường hợp có tỷ lệ bạch cầu ái toan > 20%. Nhóm dương tính <em>Toxocara canis </em>có IgE toàn phần tăng: cao nhất 86,8% nhưng nồng độ trung bình IgE toàn phần dương tính với <em>Cysticercus cellulosae </em>cao nhất: trung bình 1017,08 IU/ml. Nhóm dương tính<em> S. stercoralis</em> thấp nhất trong các loại giun sán với nồng độ trung bình IgE toàn phần 636,49 IU/ml. Tỷ lệ bạch cầu ái toan và IgE toàn phần có mối liên quan trong các bệnh nhân huyết thanh dương tính với <em>S. stercoralis</em>, <em>G. spinigerum</em> và<em> Fasciola</em> spp. có ý nghĩa thống kê. Riêng nhóm dương tính <em>T. </em><em>canis </em>tăng IgE toàn phần nhiều hơn bạch cầu ái toan còn nhóm dương tinh <em>C. </em><em>cellulosae </em>thì tăng bạch cầu ái toan nhiều hơn IgE toàn phần.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Càng nhiễm nhiều loại giun sán thì tỷ lệ và nồng độ IgE toàn phần tăng càng cao. Ở nhóm dương tính các loại giun sán mà có tăng tỷ lệ bạch cầu ái toan thì nồng độ IgE toàn phần tăng cao nhiều hơn nhóm có tỷ lệ bạch cầu ái toan bình thường.</p>Đào Trịnh Khánh LyNguyễn Đức ChínhLê Thị Bình LâmChâu Văn KhánhNguyễn Thị Lệ HằngHuỳnh Hồng Quang
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4788TỈ LỆ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HUYẾT THANH DƯƠNG TÍNH VỚI TOXOCARA SPP. Ở BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN BÀ RỊA, NĂM 2024
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4790
<p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Bệnh ấu trùng giun đũa chó, mèo (Human Toxocariasis), gây ra bởi ấu trùng <em>Toxocara</em> spp., là bệnh lây truyền từ động vật sang người qua đường tiêu hoá. Bệnh thường biểu hiện dưới dạng dương tính huyết thanh không triệu chứng hoặc các hội chứng nghiêm trọng như Ấu trùng di chuyển nội tạng (VLM). Tỷ lệ lưu hành cao ở Việt Nam và các yếu tố hành vi (như nuôi chó mèo, vệ sinh) là mối quan ngại về sức khỏe cộng đồng, thúc đẩy nghiên cứu này tại Bà Rịa – Vũng Tàu.</p> <p><strong>Mục tiêu: </strong>(i) Xác định tỷ lệ huyết thanh dương tính với <em>Toxocara spp.</em>. (ii). Mô tả một số yếu tố liên quan đến huyết thanh dương tính với kháng thể IgG kháng <em>Toxocara</em> spp.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 506 bệnh nhân tại Bệnh viện Bà Rịa. Dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn KAP và xét nghiệm ELISA để chẩn đoán IgG kháng <em>Toxocara spp.</em>, cùng với chỉ số bạch cầu áii toan (BCAT). Phân tích thống kê sử dụng hồi quy logistics để xác định tỷ số chênh (OR) của một số yếu tố nguy cơ độc lập.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>1.Tỷ lệ huyết thanh dương tính chung là 16,0% (81/506). 2. Có bốn yếu tố nguy cơ độc lập có ý nghĩa thống kê được xác định: Không tẩy giun cho vật nuôi (OR = 3,08; p < 0,001) là yếu tố nguy cơ mạnh nhất; Tăng BCAT (OR = 2,45; p < 0,001); Nghề nghiệp nông nghiệp và Buôn bán nhỏ (OR = 1,96; p = 0,004) và thường xuyên ăn rau sống (OR = 1,52; p = 0,019).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Tỷ lệ phơi nhiễm <em>Toxocara </em>spp<em>.</em> tại điểm nghiên cứu là 16,0%. Các yếu tố nguy cơ hành vi và môi trường (đặc biệt là quản lý vật nuôi kém) đóng vai trò chủ đạo. Cần tăng cường giáo dục về tẩy giun định kỳ cho vật nuôi và vệ sinh thực phẩm để kiểm soát lây nhiễm.</p>Thân Trọng QuangNguyễn Huyền Trang
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4790ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG CHỐNG NHIỄM NẤM TRÊN CÁC VỊ THUỐC ĐÔNG DƯỢC TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN TỈNH NGHỆ AN NĂM 2023
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4791
<p>Đề tài: <strong><em>Đánh giá hiệu quả phòng chống nhiễm nấm trên các vị thuốc đông dược tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Nghệ An</em></strong>. Thiết kế nghiên cứu can thiệp không ngẫu nhiên, không đối chứng, so sánh trước sau, cỡ mẫu nghiên cứu là 2 nhà kho bảo quản thuốc và các trang thiết bị phục vụ bảo quản thuốc như máy điều hòa, máy hút ẩm, nhiệt kế, ẩm kế, quạt thông gió, túi hút ẩm cùng 170 mẫu thuốc đông dược tại Bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An. Các kỹ thuật giám sát môi trường vi khí hậu trong kho thuốc, kỹ thuật nuôi cấy nấm trong môi trường Sabouraud. Kết quả: Trước can thiệp cả 2 kho đều không đạt yêu cầu điều kiện bảo quản thuốc, nhiệt độ trung bình ở 4 góc kho và giữa trung tâm kho là > 25ºC, độ ẩm > 70%, tốc độ gió < 0,5m/s, sau can thiệp 12 tháng, ở cả 2 kho đều có nhiệt độ trung bình ở 4 góc kho và giữa trung tâm kho là < 25ºC, độ ẩm < 70%, tốc độ gió 0,5m/s đến 1 m/s, đạt yêu cầu điều kiện bảo quản thuốc. Tỷ lệ nhiễm nấm chung ở 2 kho trước can thiệp 32,94%(56/170) giảm xuống còn 22,35%(38/170) sau can thiệp 12 tháng, hiệu quả can thiệp là 32,15%. Tỷ lệ nhiễm nấm <em>Aspergillus</em> sau can thiệp 12 tháng giảm từ 16,47%(24/170) xuống còn 6,47%(11/170), hiệu quả can thiệp 54,15%, </p>Hồ Văn ThăngNguyễn Thị Kim DinhNguyễn Thị NgaDương Đình ChỉnhCao Bá LợiTrịnh Thị ThúyĐỗ Hải Anh
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4791TỶ LỆ NHIỄM CANDIDA SPP. TRÊN MẪU CẤY MÁU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRÀ VINH NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4792
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ nhiễm <em>Candida</em> spp. trên mẫu cấy máu và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh năm 2025.</p> <p> <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Tất cả các mẫu có chỉ định cấy máu tại Khoa Hóa sinh – Vi sinh, Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh. Nghiên cứu cắt ngang mô tả từ tháng 8/2025 đến tháng 10/2025.</p> <p> <strong>Kết quả:</strong> Trong tổng số 247 đối tượng tham gia nghiên cứu khi tiến hành nuôi cấy trên môi trường Sabouraud Dextrose Chloramphenicol Agar cho tỷ lệ nhiễm <em>Candida</em> spp. trên mẫu cấy máu là 35 trường hợp chiếm 14,2%. Phân lập được các loài như: <em>Candida albicans </em>(42,9%), <em>Candida glabrata </em>(25,7%),<em> Candida tropicalis </em>(8,6%),<em> Candida krusei </em>(5,7%),<em> Candida </em>spp<em>. </em>(17,1%). Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm <em>Candida</em> spp. trên mẫu cấy máu có liên quan đến bệnh đái tháo đường (PR = 2,59, KTC 95%: 1,27 – 5,29), mối liên quan này là có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).</p> <p> <strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ nhiễm <em>Candida </em>spp<em>.</em> trên mẫu cấy máu của đối tượng nghiên cứu là 14,2% với sự phân bố đa dạng các loài, trong đó <em>Candida albicans</em> vẫn là tác nhân chiếm ưu thế. Nghiên cứu cũng ghi nhận tỷ lệ hiện mắc nhiễm <em>Candida </em>spp. ở nhóm đối tượng mắc đái tháo đường cao hơn so với nhóm không mắc đái tháo đường.</p>Lưu Hoàng Minh PhươngLý Khánh Linh
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4792CƠ CẤU HUYẾT THANH DƯƠNG TÍNH VỚI KÝ SINH TRÙNG TẠI PHÒNG KHÁM BỆNH CHUYÊN KHOA VIỆN SỐT RÉT - KÝ SINH TRÙNG - CÔN TRÙNG QUY NHƠN NĂM 2023 – 2024 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4793
<p>Nghiên cứu được tiến hành thu thập toàn bộ kết quả xét nghiệm huyết thanh của 190.090 lượt khám bệnh của người dân tại Phòng Khám bệnh chuyên khoa, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn từ tháng 01/2023 đến tháng 12/2024 nhằm mô tả cơ cấu huyết thanh dương tính với ký sinh trùng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính với ít nhất một loại ký sinh trùng là 20,6%. Trong đó, sán dây lợn (9,4%) và sán lá gan lớn (7,9%) có tỷ lệ huyết thanh dương tính cao nhất, thấp nhất là Amip và giun đầu gai với tỷ lệ huyết thanh dương tính lần lượt là 2,5% và 4,4%. Tỷ lệ đơn nhiễm trong số đối tượng có huyết thanh dương tính với ký sinh trùng chiếm 79,4%. Nhóm tuổi của đối tượng có huyết thanh dương tính với ký sinh trùng thường gặp nhất là trên 30 tuổi (với nhóm 31-60 là 22,0% và trên 60 tuổi là 23,1%). Nữ giới có tỷ lệ huyết thanh dương tính với các loại ký sinh trùng cao hơn nam giới (21,8% so với 18,9%, p<0,001). Theo mô hình hồi quy logistic đa biến, các yếu tố: năm khám bệnh, nhóm tuổi, giới tính và nơi cư trú liên quan đến tỷ lệ huyết thanh dương tính với ký sinh trùng (p<0,001). </p>Hồ Đắc ThoanHuỳnh Hồng QuangPhùng Phương NhaLê Quốc Hoài
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4793ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NẤM DA TRÊN NGƯỜI BỆNH ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4794
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm dịch tễ và một số yếu tố liên quan đến nấm da trên người bệnh đến khám tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Bệnh nhân được chẩn đoán nấm da bằng xét nghiệm soi tươi và nuôi cấy trên môi trường Dermatophytes Test Agar. Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn các thông tin liên quan đặc điểm dịch tễ và các yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ nhiễm nấm da ở người bệnh có tổn thương nghi ngờ nhiễm nấm là 26%. Nhóm tuổi ≥ 60 có tỷ lệ nhiễm nấm da cao hơn so với nhóm < 20 tuổi (p = 0,03). Tỷ lệ nhiễm ở nam (27,8%) cao hơn nữ (24,2%), nhưng không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Người bệnh sống tại nông thôn có tỷ lệ nhiễm nấm da cao hơn có ý nghĩa thống kê so với thành thị (p < 0,05). Cư trú nông thôn (AOR = 2,23; p < 0,05), sử dụng corticoid (AOR = 5,90; p < 0,001) và mặc quần áo ẩm (AOR = 6,28; p < 0,001) là các yếu tố liên quan độc lập với nhiễm nấm da.</p> <p><strong>Kết luận:</strong>Nấm da vẫn là bệnh lý thường gặp, đặc biệt ở người cao tuổi. Các yếu tố hành vi và môi trường, nhất là sử dụng corticoid và mặc quần áo ẩm, đóng vai trò quan trọng trong nguy cơ nhiễm nấm da.</p>Nguyễn Thị Thảo LinhHuỳnh Gia BảoLê Trần AnhPhan Hoàng ĐạtTrần Quang Phục
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4794MỨC ĐỘ NHẠY CẢM VÀ HIỆU LỰC DIỆT SINH HỌC CỦA HÓA CHẤT VỚI MUỖI AEDES Ở MỘT SỐ ĐIỂM TẠI KHU VỰC NAM BỘ NĂM 2024
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4795
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định mức độ nhạy cảm và hiệu lực diệt sinh học của hóa chất diệt côn trùng với muỗi <em>Ae. aegypti</em> và <em>Ae. albopictus</em> tại một số điểm ở khu Nam Bộ năm 2024</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Thử nghiệm có đối chứng</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Muỗi <em>Ae. aegypti</em> 02/04 điểm kháng, 02/04 điểm tăng sức chịu đựng với hóa chất Deltamethrin 0,05%; 04/05 điểm kháng, 01/05 điểm nhạy với Alphacypermethrin 0,08%; 03/03 điểm kháng với Permethrin 0,75%; 02/02 điểm còn nhạy với hóa chất Malathion 5%. Muỗi <em>Ae. albopictus</em> 02/02 điểm kháng với hóa chất Deltamethrin 0,05%; 01/01 điểm nhạy với Alphacypermethrin 0,08%; 01/01 điểm kháng với Permethrin 0,75%. Hiệu lực diệt sinh học đối với muỗi <em>Ae. aegypti</em> 06/07 điểm đạt, 01/07 điểm không đạt; muỗi <em>Ae. aegypti</em> 02/02 điểm đạt.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Muỗi <em>Aedes aegypti </em>và <em>Aedes albopictus</em> (F1) nở từ bọ gậy được thu thập tại các điểm nghiên cứu đã kháng với Deltamethrin 0,05%, Alphacypermethrin 0,08%, Permethrin 0,75%, nhưng vẫn còn nhạy với Malathion 5%; các hóa chất sử dụng trong chương trình phòng chống sốt xuất tại các các tỉnh vẫn còn hiệu lực diệt tốt.</p>Giang Hán MinhĐoàn Bình MinhPhạm Nguyễn Thúy VyMai Đình ThắngLê Tấn KiệtPhạm Thị NhungĐỗ Quốc HoaNguyễn Hữu PhúcPhan Văn ÝPhan Võ Quỳnh NhưNgô Hằng Thủy TrúcNguyễn Hoàng Minh AnhNguyễn Quế AnhLê Hồng TâyCao Thị HườngNguyễn Tuấn DũngNguyễn Thị Hồng NhungNguyễn Thị Ngọc YếnTrần Đỗ Thanh PhongHà Thị Thùy DươngTrịnh Thị Thanh TuyềnTrịnh Thị Thanh TuyềnLữ Đức ThànhNguyễn Ngọc Trang
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4795MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ SỐT RÉT KHU VỰC NAM BỘ - LÂM ĐỒNG GIAI ĐOẠN NĂM 2021 - 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4796
<p>Mục tiêu: đánh giá lại đặc điểm dịch tễ học sốt rét hiện nay và phân tích những khó khăn trong công tác loại trừ sốt rét và phòng sốt rét quay lại ở khu vực.</p> <p>Phương pháp tìm kiếm và tổng quan tài liệu: Hồi cứu mô tả số liệu về tình hình sốt rét. Phân tích số liệu bệnh nhân sốt rét, sốt rét ác tính, tử vong sốt rét, đánh giá dịch tễ học, ký sinh trùng sốt rét, côn trùng sốt rét.</p> <p>Kết quả: Tình hình sốt rét giảm, không có dịch sốt rét xãy ra, phân bố trường hợp bệnh đều theo các tháng trong năm, Có hơn 20 loài Anopheles (3 véc tơ chính truyền bệnh sốt rét), còn nhiều khó khan, thách thức trong công tác phòng chống và loại trừ sốt rét như hệ thống phòng chống sốt rét, sốt rét kháng thuốc, mỗi kháng hóa chất, nguy cơ sốt rét từ khỉ sang người</p> <p>Kết luận: tình hình sốt rét ở khu vực có xu hướng giảm và giảm đều tất cả các chỉ số. Các trường hợp sốt rét nội địa chủ yếu tập trung ở tỉnh Bình Phước cũ. Năm 2025 có 19/20 tỉnh/thành đã đạt tiêu chí loại trừ sốt rét. Những khó khăn và thách thức cho công tác phòng chống và loại trừ sốt rét, phòng chống sốt rét quay lại hiện nay và thời gian tới như nguồn lực, tình hình sốt rét kháng thuốc, muỗi sốt rét kháng hóa chất, nguy cơ sốt rét từ khỉ (do ký sinh trùng <em>P. knowlesi</em>) sang người cao, sốt rét ngoại lại từ châu Phi và một sốt khu vực sốt rét lưu hành trong và ngoài nước luôn hiện hữu.</p>Đoàn Bình MinhLê Thị ChiếnGiang Hán MinhPhan Võ Quỳnh NhưPhạm Nguyễn Thúy VyNguyễn Văn KhởiTrần Quang VũNguyễn Sỹ HảiNguyễn Văn HoànLê Thị ChiếnNguyễn Thị LàiNguyễn Thị HàNguyễn Thị Bích NgọcThái Phan Thúy LoanLê Văn BằngMai Đình ThắngLê Tấn KiệtPhạm Thị NhungLê Hồng TâyCao Thị HườngĐỗ Thị Phượng LinhNguyễn Đức ThắngNgô Thị Hồng PhươngHoàng OanhHuỳnh Kha Thảo HiềnNgô Hằng Thủy TrúcNguyễn Thị Ngọc YếnTrần Đỗ Thanh PhongHà Thị Thùy DươngNguyễn Thị Thanh TuyềnLê Trần Thúy VyNguyễn Văn Dung
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4796MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG NẤM DA TRÊN NGƯỜI BỆNH ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4797
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng nấm da tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang 100 người bệnh bệnh nấm da tại Bệnh viện Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Một nghiên cứu trên 100 người bệnh mắc nấm da tại Bệnh viện Đại học Y Dược Cần Thơ cho thấy, các tổn thương thường gặp là ban đỏ 96%, dát 88%, có ranh giới rõ ràng 80%; vị trí tổn thương thường gặp là bụng và chi trên với tỷ lệ đều là 23%; lưng và chi dưới với tỷ lệ lần lượt là 21% và 20%. Số lượng tổn thương từ 2 - 5 là nhiều nhất (43%), diện tích tổn thương ≤ 1 bàn tay là phổ biến nhất (53%), mức độ tổn thương trung bình và nặng, lần lượt là 40% và 39%. Biểu hiện lâm sàng của nấm da toàn thân chiếm ưu thế. Đa số có thời gian mắc bệnh dưới 3 tháng (51%).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Đặc điểm lâm sàng nấm da phổ biến tổn là tổn thương dạng hồng ban, dát da, có ranh giới rõ, bờ liên tục, số lượng từ 2 – 5 tổn thương, mức độ từ vừa và nặng, thể phổ biến nhất là nấm thân, thời gian mắc bệnh thường dưới 3 tháng.</p>Nguyễn Thị Thảo LinhTrần Quang PhụcLê Trần AnhPhan Hoàng ĐạtHuỳnh Gia Bảo
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4797 BÁO CÁO CA BỆNH HỘI CHỨNG TĂNG NHIỄM GIUN LƯƠN TRÊN BỆNH NHÂN CUSHING DO SỬ DỤNG THUỐC CORTICOID KÉO DÀI
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4830
<p><strong><em>Đặt vấn đề</em></strong>: Bệnh giun lươn thường gặp ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch, khi nhiễm giun lươn có thể gây hội chứng tăng nhiễm giun lươn, bệnh thường diễn tiến nặng và có thể dẫn đến tử vong. Chúng tôi thông báo ca bệnh mắc hội chứng tăng nhiễm giun lươn ở bệnh nhân có hội chứng Cushing do sử dụng corticoid kéo dài kèm theo đái tháo đường típ 2 nhằm chia sẻ các thông tin giúp các nhà lâm sàng có thêm những dữ liệu cân thiết trong thực hành điều trị bệnh.</p> <p><strong><em>Trình bày ca bệnh</em></strong>: Bệnh nhân nữ 74 tuổi ngụ tại huyện Đức Huệ, tỉnh Long An, thoái hóa khớp gối nhiều năm đã được điều trị với thuốc kháng viêm corticosteroid. Bệnh nhân nhập viện vì khó thở, mệt. Triệu chứng đường hô hấp khó thở ngày càng tăng, được điều trị oxy mask có túi dự trữ sau đó được đặt nội khí quản thở máy. Xét nghiệm đàm và soi phân cho thấy ấu trùng giun lươn. Cấy máu dương tính <em>Enterococcus faecium</em> nhạy Vancomycin. Xét nghiệm Eosinophil máu bình thường tại thời điểm nhập viện. Trong quá trình điều trị bệnh nhân xuất hiện biến chứng viêm phổi nặng kèm hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS), xuất huyết tiêu hóa trên nghi do loét dạ dày tá tràng. Bệnh nhân được điều trị Ivermectin, phối hợp kháng sinh Meropenem và Vancomycin. Sau 9 ngày điều trị bệnh nhân cai được máy thở, sau 16 ngày điều trị bệnh nhân khỏi bệnh xuất viện.</p> <p><strong><em>Kết luận</em></strong>: Hội chứng tăng nhiễm giun lươn trên bệnh nhân sử dụng corticosteroid kéo dài có tiên lượng tử vong cao với bệnh cảnh suy hô hấp cấp (ARDS) và nhiễm trùng huyết thứ phát. Tình trạng bạch cầu ái toan trong giới hạn bình thường là một thách thức lớn, dễ gây bỏ sót chẩn đoán. Cần chủ động tầm soát ký sinh trùng trước khi điều trị ức chế miễn dịch và phối hợp sớm Ivermectin liều cao cùng hồi sức tích cực để cải thiện kết cục lâm sàng.</p>Trương Ngọc TrungHà Thị Hải ĐườngLê Thái Kim ThưNguyễn Thị Quỳnh NgaPhan Thị Thu TâmĐường Ngọc LanDư Lê Thanh XuânVõ Thanh LâmVõ Thị Hồng NhiNguyễn Huỳnh Thanh TrúcLưu Minh KhoaNguyễn Hà Hồng TiếnVũ Thị Hải HậuPhạm Thị Như Ý
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-14TỶ LỆ NHIỄM LIÊN CẦU KHUẨN NHÓM B VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC THỦ ĐỨC: NGHIÊN CỨU CẮT NGANG MÔ TẢ
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4813
<p>Đặt vấn đề: Nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B ở thai phụ là nguyên nhân quan trọng gây nhiễm trùng sơ sinh sớm, viêm màng ối, nhiễm khuẩn huyết và tăng tỷ lệ tử vong chu sinh. Trên thế giới, tỷ lệ mang liên cầu khuẩn nhóm B dao động từ 10–30% tùy khu vực, trong khi tại Việt Nam các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ có xu hướng tăng, nhưng sự khác biệt giữa vùng dân cư, tuyến bệnh viện và mô hình chăm sóc thai kỳ vẫn chưa được mô tả đầy đủ. Điều này đặt ra nhu cầu đánh giá dịch tễ học liên cầu khuẩn nhóm B trong từng bối cảnh địa phương nhằm tối ưu hóa chiến lược tầm soát và dự phòng. Bệnh viện đa khoa khu vực Thủ Đức là cơ sở tuyến cuối khu vực phía Đông Thành phố Hồ Chí Minh, tiếp nhận số lượng lớn thai phụ từ cả khu vực thành thị và nông thôn, với đặc điểm xã hội học đa dạng. Tuy nhiên, đến nay chưa có nghiên cứu hệ thống nào xác định tỷ lệ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B và các yếu tố liên quan tại bệnh viện này. Việc thiếu dữ liệu địa phương khiến khó xây dựng chiến lược tầm soát phù hợp, khó dự báo nhóm nguy cơ cao và hạn chế hiệu quả của điều trị dự phòng bằng kháng sinh trong chuyển dạ.</p> <p><strong>Mục tiêu nghiên cứu:</strong> Tỷ lệ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B và 1 số yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>phương pháp cắt ngang mô tả. Chọn những thai phụ tuổi thai ≥ 37 0/7 nhập viện và chấm dứt thai kỳ tại khoa sanh Bệnh viện đa khoa khu vực Thủ Đức.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Nhóm tuổi thai phụ tập trung chủ yếu trong khoảng 30–39 tuổi (56,5%). Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 29,66 ± 4,95 tuổi, với tuổi nhỏ nhất là 19 và lớn nhất là 40. Nhóm cư trú tại thành thị chiếm ưu thế (56,5%), trong khi nhóm thành thị chiếm 43,5%. Tỷ lệ thai phụ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B là 33 trường hợp (chiếm tỷ lệ 28,7%). Giá trị BMI trung bình là 22,1 ± 2,97, đa số thuộc nhóm BMI bình thường 18,5–22,9 (66,1%), tiếp theo là hai nhóm BMI ≥23 chiếm tổng cộng 27,8%. Thai phụ có viêm âm đạo có tỷ lệ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B cao gấp 6,37 lần so với nhóm không bị viêm âm đạo (p=0,000). Tỷ lệ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B ở nhóm thai phụ có BMI ≥ 23 cao hơn so với nhóm BMI (OR = 1,46) nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Thai phụ ≥ 35 tuổi có nguy cơ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B nhiều hơn thai phụ < 35 tuổi (OR = 1,94), sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>thai phụ bị viêm âm đạo trong thai kỳ có tỷ lệ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B cao hơn nhóm không bị viêm âm đạo.</p>Lê Thị Thu TrangHuỳnh Thanh LiêmCao Tấn PhướcĐỗ Quang SangHuỳnh Ngọc PhướcLê Hoàng Mai TrâmNguyễn Quốc Tuấn
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4813ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ CĂN NGUYÊN GÂY VIÊM PHỔI DO NẤM TRÊN BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4814
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả định danh căn nguyên vi nấm của bệnh nhân viêm phổi do nấm điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. </p> <p><strong>Phương pháp: </strong>Thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 153 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn có chẩn đoán viêm phổi do nấm và kết quả định danh căn nguyên vi nấm được điều trị nội trú tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội trong thời gian từ tháng 01/2023 đến tháng 01/2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình 67,55 ± 13,00, độ tuổi từ 60-75 chiếm 48,4%, nam/nữ là 3/1. Triệu chứng lâm sàng chủ yếu gồm ho đờm (68%), khó thở (67,3%), sốt (62,7%), giảm thông khí phổi (68,6%), ran ẩm ran nổ (66%), suy hô hấp (65,4%). Các bệnh lý nền thương gặp như đái tháo đường (35,3%), COPD (33,3%), suy tim (16,3%), khối u rắn (15%), các bệnh hô hấp mãn tính khác (12,4%). Tổn thương phổi trên phim CT scanner ngực thấy chủ yếu ở 2 bên (86,3%), đông đặc (69,9%), dày thành phế quản (64,4%), kính mờ (62,3%). Hầu hết bệnh nhân có tăng CRP (92,4%), tăng PCT (98,4%), tăng bạch cầu trung tính (80,4%). Căn nguyên vi nấm phân lập được nhiều nhất là <em>Candida</em> spp. (80,4%) và <em>Aspergillus</em> spp. (18,3%).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân viêm phổi do nấm đa dạng. Việc chẩn đoán phải kết hợp cả triệu chứng, yếu tố nguy cơ trên bệnh nhân và kết quả xét nghiệm vi nấm để đánh giá và tiên lượng trong điều trị.</p>Nguyễn Văn TầnPhạm Ngọc MinhLê HoànTrần Khánh Chi
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4814CĂN NGUYÊN VI KHUẨN VÀ TÌNH TRẠNG KHÁNG KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN PHÂN LẬP ĐƯỢC Ở BỆNH PHẨM NƯỚC TIỂU TẠI BỆNH VIỆN A THÁI NGUYÊN NĂM 2024
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4815
<p><strong>Mục tiêu</strong>: Xác định căn nguyên vi khuẩn, tình trạng đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn điển hình phân lập được ở bệnh phẩm nước tiểu và 1 số yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn tiết niệu phân lập được trong các mẫu bệnh phẩm nước tiểu tại bệnh viện A Thái Nguyên từ tháng 1 năm 2024 đến tháng 12 năm 2024.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tỉ lệ<em> Escherichia coli</em> kháng cao nhất đối với levofloxacin (93,48%), kháng ampicilin là (86,96%), kháng thấp nhất đối với ceftazidime/avibactam là (4%). Ngược lại <em>Escherichia coli </em>lại nhạy cảm với ceftazidime/avibactam là (96%), với amikacin là (89,1%), meropenem (86,96%), các kháng sinh khác dao động từ 30-60%. Vi khuẩn <em>Pseudomonas aeruginosa</em> kháng kháng sinh rất cao, tỉ lệ kháng 100% đối với amikacin, aztreonam, cefepime, ceftazidime, ciprofloxacin, colistin, levofloxacin, meropenem; tỉ lệ kháng 80% đối với imipenem và meropenem. Vi khuẩn <em>Enterobacter cloacae </em>kháng hầu hết với tất cả các loại kháng sinh thử nghiệm, kháng với ampicillin, aztreonam, cefepime, cefotaxime, ceftazidime, ceftriaxone, cefuroxime, ciprofloxacin, gentamicin, levofloxacin, piperacillin/tazobactam; trimethoprim/sulfamethoxazole là 100%; vi khuẩn đề kháng thấp nhất với amikacin là 40%</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỉ lệ kháng kháng sinh ở một số vi khuẩn thường gây NKĐTN là rất cao, đặc biệt là <em>Pseudomonas aeruginosa, Enterobacter cloacae, Escherichia coli. </em>Tỉ lệ chủng đa kháng rất cao ở các vi khuẩn <em>Pseudomonas aeruginosa, Enterobacter cloacae. </em>Kết quả của nghiên cứu này cho thấy sự cần thiết tiến hành các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn để hạn chế tình trạng kháng kháng sinh, và quan tâm nhất là các chủng đa kháng.</p>Nguyễn Văn PhúcĐoàn Thị Nguyệt LinhNguyễn Vân ThuLý Thị BắcTrần Thị Hường
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4815THỰC TRẠNG ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA CÁC CHỦNG VI KHUẨN ĐƯỢC PHÂN LẬP TỪ BỆNH PHẨM HÔ HẤP TẠI BỆNH VIỆN A THÁI NGUYÊN NĂM 2024
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4816
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định căn nguyên vi khuẩn và tình trạng kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập từ bệnh phẩm đường hô hấp tại Bệnh viện A Thái Nguyên.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 381 mẫu bệnh phẩm hô hấp dương tính nuôi cấy vi khuẩn của bệnh nhân có dấu hiệu nhiễm khuẩn hô hấp, thu thập trong thời gian 01/2025–12/2025 tại Khoa Vi sinh Bệnh viện A Thái Nguyên. Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện, các số liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm STATA 14. Đây là nghiên cứu hồi cứu, đã được phê duyệt bởi Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên và Bệnh viện A Thái Nguyên.</p> <p><strong>Kết quả nghiên cứu:</strong> <em>Haemophilus influenzae</em> có tỷ lệ kháng ampicillin cao (94,3%) và Cefuroxime (78,8%), nhưng vẫn nhạy cảm tốt với ceftriaxone (98,1%) và levofloxacin (100%). <em>Streptococcus pneumoniae</em> kháng mạnh với erythromycin (97,2%) và azithromycin (95,7%), trong khi tỷ lệ nhạy cảm với penicillin (47,2%) trung bình và levofloxacin (98,1%) vẫn giữ mức nhạy cao. <em>Staphylococcus aureus</em> ghi nhận tỷ lệ kháng penicillin (100%) và erythromycin (76,2%), song ghi nhận tỷ lệ nhạy cảm cao với linezolid (90%) và Trimethoprim/Sulfamethoxazole (85,7%). <em>Pseudomonas aeruginosa</em> kháng ceftazidime (77,8%) và piperacillin-tazobactam (66,7%), tỷ l nhạy với amikacin (38,9%). Từ kết quả này, cần tăng cường giám sát kháng thuốc định kỳ, sử dụng kháng sinh hợp lý dựa trên kháng sinh đồ, đẩy mạnh kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện, đồng thời xây dựng phác đồ điều trị phù hợp với đặc điểm dịch tễ vi khuẩn tại địa phương nhằm hạn chế sự lan rộng của vi khuẩn kháng thuốc.</p>Mai Thanh Hải LinhHà Phương ThảoLý Thị BắcNguyễn Vân ThuĐoàn Thị Nguyệt Linh
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4816PHÂN LẬP HERPES SIMPLEX VIRUS (HSV) TỪ TỔN THƯƠNG BỌNG NƯỚC
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4817
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Phân lập HSV từ bệnh phẩm tổn thương bọng nước trên tế bào Vero.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên các bệnh phẩm tổn thương bọng nước nghi ngờ do HSV.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Hai mươi chủng HSV (HSV-1 và HSV-2) đã được phân lập trên tế bào thường trực thận khỉ xanh châu Phi (Vero) từ 37 bệnh phẩm tổn thương bọng nước thể mặt và sinh dục nghi ngờ do HSV (54,1%), trong đó, 90% là các chủng được phân lập từ herpes thể mặt. Tỷ lệ dương tính của nhóm chưa sử dụng thuốc kháng virus đặc hiệu trước khi lấy bệnh phẩm cao hơn ở nhóm đã dùng thuốc mặc dù sự khác biệt này là không có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ dương tính cũng không khác biệt giữa nam và nữ. Nghiên cứu thu được 12 chủng từ bệnh nhân chưa sử dụng thuốc kháng virus đặc hiệu, đây là các chủng có thể sử dụng cho nghiên cứu phát hiện đa dạng di truyền của các chủng HSV lưu hành tại Việt Nam.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Trong nghiên cứu này, tỷ lệ dương tính khá cao (54,1%), khi phân lập HSV trên tế bào Vero từ các tổn thương bọng nước ở da. Các chủng virus phân lập được có thể được dùng cho thử nghiệm xác định tính nhạy cảm của HSV với các thuốc kháng virus và hiệu quả của các thuốc kháng virus mới.</p> <p> </p>Nguyễn Văn ĐứcTrần Minh ChâuNguyễn Thành NamNguyễn Thị Thường
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4817KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VÀ THỰC TRẠNG NHIỄM GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TẠI MỘT SỐ XÃ NGOẠI THÀNH HÀ NỘI NĂM 2023
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4818
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống giun truyền qua đất và xác định tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất ở người trưởng thành tại xã Yên Bài và thị trấn Tây Đằng, huyện Ba Vì, Hà Nội năm 2023.</p> <p><strong>Phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 298 người trưởng thành. Thông tin về kiến thức, thái độ và thực hành được thu thập bằng bảng hỏi phỏng vấn trực tiếp. Mẫu phân được xét nghiệm bằng kỹ thuật Kato–Katz để phát hiện trứng giun.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ người dân có kiến thức chung đạt về phòng chống giun truyền qua đất là 31%. Giun đũa được biết đến nhiều nhất (46,98%), tiếp theo là giun móc/mỏ (32,21%) và giun tóc (21,81%). Có 69,13% người dân có thói quen ăn rau sống, 18,12% đi chân đất khi lao động và 33,89% uống thuốc tẩy giun định kỳ. Tỷ lệ thực hành chung đạt là 87%. Tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất là 8,05%, trong đó giun móc/mỏ chiếm tỷ lệ cao nhất (7,05%).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Kiến thức về bệnh giun truyền qua đất của người dân còn hạn chế mặc dù thực hành phòng bệnh tương đối tốt. Cần tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe và tẩy giun định kỳ để giảm nguy cơ nhiễm bệnh.</p>Nguyễn Ngọc HuyTrần Quỳnh AnhVũ Hoàng AnhNguyễn Việt Anh
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4818KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ PHÒNG CHỐNG BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE CỦA NGƯỜI DÂN TẠI XÃ VĨNH HẬU, TỈNH CÀ MAU NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4819
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành về phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue của người dân tại xã Vĩnh Hậu, tỉnh Cà Mau năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu cắt ngang mô tả từ tháng 8-11 năm 2025 trên 390 người dân tại xã Vĩnh Hậu, tỉnh Cà Mau.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> 100% đối tượng biết về sốt xuất huyết, 98,5% biết muỗi truyền bệnh, nhưng kiến thức chi tiết về muỗi vằn, thời gian đốt và nơi đẻ trứng còn hạn chế. Thực hành phòng bệnh chưa đồng đều, 51,2% súc rửa dụng cụ chứa nước thường xuyên, 82,3% ngủ màn, các biện pháp khác dưới 25%, diệt lăng quăng chỉ 2,6%. Có mối liên quan giữa kiến thức đúng và thực hành đúng (OR = 3,2; p < 0,001).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Người dân xã Vĩnh Hậu, tỉnh Cà Mau có kiến thức chuyên sâu và thực hành phòng bệnh vẫn còn hạn chế, đặc biệt biện pháp diệt lăng quăng rất thấp (2,6%). Nhóm có kiến thức đạt có khả năng thực hành đúng cao hơn so với nhóm có kiến thức không đạt, cho thấy kiến thức đóng vai trò quan trọng trong thay đổi hành vi.</p>Cao Triệu VươngPhan Thanh HòaHuỳnh Thị Hồng ThuHuỳnh Thanh Ngọc
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4819TÌNH HÌNH ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA KLEBSIELLA PNEUMONIAE TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HẢI DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2023 - 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4820
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tình hình kháng kháng sinh của <em>Klebsiella pneumoniae</em> (<em>K. pneumoniae</em>) ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết (NKH) và sự phù hợp giữa lựa chọn kháng sinh theo kinh nghiệm với kết quả kháng sinh đồ (KSĐ).</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang ở 31 người bệnh được chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết do <em>Klebsiella pneumoniae</em> điều trị tại Khoa truyền nhiễm - Bệnh viện đa khoa Hải Dương từ 01/01/2023 đến 30/09/2025.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Các chủng <em>Klebsiella pneumoniae</em> phân lập được sinh ESBL chiếm 38,7%. Có tỷ lệ kháng cao với kháng sinh nhóm penicilin (37,5 – 89%); nhóm cephalosporin (22,6- 38,7%); quinolon (15,4 – 26,7%); aminoglycoside (4 – 22%); carbapenem (3,2- 6,5%); 01 trường hợp kháng trung gian với kháng sinh colistin. Tỷ lệ đa kháng kháng sinh (MDR) là 45,2 %. Chưa có chủng vi khuẩn kháng mở rộng và toàn kháng. Các kháng sinh được lựa chọn theo kinh nghiệm khi bệnh nhân có nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết có thể liên quan đến <em>Klebsiella pneumoniae</em> là cephalosporin 38,7%, nhóm fluoroquinolon 41,9%, nhóm amikacin 12,9% và nhóm carbapenem 9,6%. Có kết quả vi sinh kháng thuốc trả trên kháng sinh đồ về tương ứng là 38,7%; 36,7%; 35,7% và 3,2%.</p> <p><strong>Kết luận: </strong><em>Klebsiella pneumoniae</em> có tỷ lệ nhạy cảm thấp với đa số các kháng sinh thử nghiệm, nhiều kháng sinh được lựa chọn theo kinh nghiệm trong điều trị đã có kết quả kháng.</p>Vũ Thị TrangVũ Thanh QuýLê Thị ThảoPhạm Hoàng Quyên
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4820KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI TẠI XÃ VĨNH THANH, TỈNH CÀ MAU NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4821
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Vĩnh Thanh, tỉnh Cà Mau năm 2025.</p> <p><strong>P</strong><strong>hương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên bà mẹ có con dưới 5 tuổi đang sinh sống tại xã Vĩnh Thanh, tỉnh Cà Mau.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Kết quả nghiên cứu cho thấy người dân có kiến thức chung nhất định về bệnh tay chân miệng nhưng kiến thức chi tiết và thực hành phòng bệnh còn hạn chế; chỉ 28% đạt kiến thức và 24,9% có thực hành đúng. Kiến thức tốt giúp tăng khả năng thực hành đúng gấp 2,1 lần (p < 0,05), chứng tỏ mối liên hệ chặt chẽ giữa hiểu biết và hành vi.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Nghiên cứu cho thấy kiến thức và thực hành phòng bệnh tay chân miệng của bà mẹ tại xã Vĩnh Thanh còn thấp, đặc biệt thói quen rửa tay bằng xà phòng chưa được duy trì. Kiến thức tốt giúp tăng khả năng thực hành đúng gấp 2,1 lần. Vì vậy, cần tăng cường truyền thông và tập huấn định kỳ để nâng cao hiểu biết và cải thiện hành vi vệ sinh phòng bệnh trong cộng đồng.</p>Lê Phú NhuậnPhan Thanh HòaHuỳnh Thị Hồng ThuHuỳnh Thanh Ngọc
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4821ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN NẤM MÓNG DO CANDIDA TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4822
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân nấm móng do <em>Candida</em>.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 76 bệnh nhân được chẩn đoán nấm móng, khám và điều trị tại Bệnh viện Da liễu Trung ương trong thời gian từ tháng 1-7 năm 2025. Các đặc điểm dịch tễ học, hành vi liên quan, bệnh lý nền và biểu hiện lâm sàng được thu thập và phân tích. Việc phân lập và định danh <em>Candida</em> được tiến hành theo quy trình xét nghiệm thường quy. Mối liên quan giữa các yếu tố lâm sàng và mức độ tổn thương móng được đánh giá bằng các phép kiểm thống kê thích hợp.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong tổng số 76 bệnh nhân nấm móng, có 39 trường hợp được xác định nhiễm <em>Candida</em>, chiếm 51,32%. Bệnh gặp chủ yếu ở nữ giới (69,23%) và ở nhóm bệnh nhân trên 40 tuổi (66,67%). Tỷ lệ bệnh nhân sinh sống tại khu vực nông thôn cao hơn so với khu vực thành thị. Nấm móng do <em>Candida</em> thường liên quan đến các hành vi vệ sinh bàn tay và bàn chân chưa phù hợp, đặc biệt là thói quen thường xuyên tiếp xúc với nước và chất tẩy rửa. Phân tích cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa giữa thời gian mắc bệnh, hành vi sử dụng chất tẩy rửa không phù hợp và tình trạng đái tháo đường với số lượng móng bị tổn thương. Đồng thời, thời gian mắc bệnh có liên quan đáng kể đến sự xuất hiện các triệu chứng cơ năng như ngứa, đau và biểu hiện viêm quanh móng.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Thời gian mắc bệnh và tình trạng đái tháo đường có liên quan đến mức độ lan rộng tổn thương móng ở bệnh nhân nấm móng do <em>Candida</em>. Ngoài ra, thời gian mắc bệnh còn ảnh hưởng đến các biểu hiện lâm sàng như ngứa, đau và viêm quanh móng.</p>Nguyễn Quý Trọng QuangVũ Huy LượngNguyễn Thị Mai HươngLê Trần Khánh VyTrần Cẩm Vân
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4822NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ, KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG MUỖI SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE CỦA NGƯỜI DÂN PHƯỜNG 3, QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2024
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4823
<p><strong>TÓM TẮT</strong></p> <p><strong>Mục tiêu: </strong>Khảo sát các chỉ số muỗi sốt xuất huyết Dengue và mô tả kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh của người dân phường 3, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện tại phường 3, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 06/2024 đến tháng 11/2024 trên 550 người dân từ 15 tuổi trở lên đang sinh sống tại địa bàn và các loài muỗi Ae. aegypti, Ae. albopictus; dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi cấu trúc kết hợp điều tra véc tơ</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Nghiên cứu cho thấy 100% muỗi thu thập được là Aedes aegypti, trong đó muỗi cái chiếm 62,7%. Các chỉ số muỗi và bọ gậy đều ở mức thấp (DIₐₑ = 0,12 con/nhà; CI = 3,13%; BI = 5,6; mật độ bọ gậy/nhà = 0,07). Muỗi chủ yếu trú đậu trong nhà, ổ bọ gậy thường gặp ở chậu cây cảnh và lọ hoa. Kết quả ghi nhận 44,7% người dân đạt kiến thức chung đúng; 33,8% có thái độ chung đúng và 53,6% thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng chống SXHD.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Các chỉ số muỗi và bọ gậy <em>Aedes aegypti</em> tại phường 3, quận 8 đều ở mức thấp. Tuy nhiên, tỷ lệ kiến thức, thái độ và thực hành đúng của người dân còn hạn chế, cho thấy cần tiếp tục tăng cường truyền thông và thực hành phòng chống SXHD.</p>Nguyễn Văn CửThân Trọng QuangHồ Vĩnh Lập
Copyright (c) 2026
2026-04-142026-04-1410.52163/yhc.v67iCD4.4823PHỔ GEN CARBAPENEMASE VÀ TÍNH NHẠY CẢM VỚI COLISTIN CỦA PSEUDOMONAS AERUGINOSA PHÂN LẬP TẠI BỆNH VIỆN NGUYỄN TRI PHƯƠNG
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4846
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu mô tả đặc điểm kháng thuốc và phổ gen carbapenemase của <em>Pseudomonas aeruginosa</em> phân lập từ người bệnh nội trú tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương giai đoạn 2024-2025.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> 88 chủng không trùng lặp, được làm kháng sinh đồ theo CLSI 2025, xác định MIC Colistin (E-test) và khảo sát các gen carbapenemase chính <em>(blaNDM, blaIMP, blaVIM, blaKPC)</em> cùng 10 biến thể gen <em>mcr</em> bằng multiplex real-time PCR.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ kháng Imipenem và Meropenem khoảng 42-46%, và tất cả các chủng thử nghiệm vẫn nhạy với Colistin. Trong 32 chủng có ít nhất 1 gen carbapenemase, gen <em>bla</em><em>NDM</em> phổ biến nhất (hơn 50%), vượt trội so với <em>bla</em><em>IMP</em> (28-29%), với mối liên quan thống kê rất mạnh giữa <em>blaNDM/blaIMP</em> và kiểu hình kháng Carbapenem (p < 0,00001). Không phát hiện bất kỳ biến thể gen <em>mcr</em> nào.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kết quả ghi nhận sự nổi bật của gen <em>blaNDM</em> trong phổ gen carbapenemase của <em>P.aeruginosa</em> trong bối cảnh Colistin vẫn còn hiệu lực, qua đó cung cấp dữ liệu dịch tễ phân tử quan trọng làm cơ sở tham khảo cho tối ưu hóa điều trị và củng cố chương trình quản lý kháng sinh tại bệnh viện.</p>Nguyễn Minh HàNguyễn Quang Huy
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4846PHỐI HỢP TỶ SỐ CREATININ/CYSTATIN C VÀ MỠ CƠ THỂ TRONG ĐÁNH GIÁ GIẢM CHỨC NĂNG CƠ Ở BỆNH NHÂN ĐTĐ TYPE 2
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4847
<p><strong>Mục tiêu</strong><strong>:</strong> Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng phối hợp tỷ số creatinin/cystatin C với tỷ lệ mỡ cơ thể và yếu tố tuổi trong việc dự báo suy giảm khối lượng và chức năng cơ ở bệnh nhân đái tháo đường type 2.</p> <p><strong>P</strong><strong>hương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang trên 93 bệnh nhân đái tháo đường type 2 và 34 người khỏe mạnh tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh - Cơ sở 2. Chỉ số khối cơ, chỉ số khối cơ/chỉ số khối cơ thể và tỷ lệ mỡ cơ thể đo bằng máy InBody. Lực cơ đánh giá qua cơ lực tay và thời gian đi bộ. Hai mô hình dự đoán so sánh qua AUC: tỷ lệ mỡ cơ thể + creatinin/cystatin C và tỷ lệ mỡ cơ thể + creatinin/cystatin C + tuổi.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Giá trị creatinin/cystatin C cao hơn liên quan có ý nghĩa với tỷ số khối cơ/chỉ số khối cơ thể cao hơn, cơ lực tay mạnh hơn và thời gian đi bộ ngắn hơn. Trong phát hiện giảm khối lượng cơ, AUC tăng từ 0,80 lên 0,82. Đối với yếu cơ và thời gian đi bộ kéo dài, AUC cải thiện từ 0,65 lên 0,75 và từ 0,67 lên 0,70 khi bổ sung yếu tố tuổi. Mô hình đầy đủ cho khả năng phân biệt cao nhất.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tỷ số creatinin/cystatin C, tỷ lệ mỡ cơ thể và yếu tố tuổi cho giá trị dự báo tốt trong phát hiện suy giảm khối lượng và chức năng cơ ở bệnh nhân đái tháo đường type 2.</p>Trần Ngọc HiếnTrần Trương Trung TínhHuỳnh Trung Quốc HiếuMai Phương ThảoLê Quốc Tuấn
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4847KHỐI LƯỢNG CƠ VÀ CHỨC NĂNG CƠ Ở BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN: SO SÁNH MỐI LIÊN QUAN GIỮA CHỈ SỐ TEO CƠ, TỶ LỆ CREATININE/CYSTATIN C VÀ SỰ KHÁC BIỆT VỀ MỨC LỌC CẦU THẬN ƯỚC TÍNH
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4849
<p><strong>Mục tiêu:</strong> So sánh mối liên quan của SI, tỷ lệ Cre/CysC và eGFRdiff với khối cơ và chức năng cơ ở bệnh nhân bệnh thận mạn.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 90 bệnh nhân bệnh thận mạn. Khối cơ được đánh giá bằng SMI, HGS và khả năng vận động thông qua thời gian đi bộ. Mối liên quan giữa SI, Cre/CysC và eGFRdiff với chỉ số cơ xương, HGS, thời gian đi bộ, BMI và tuổi được phân tích bằng các hệ số tương quan Pearson hoặc Spearman phù hợp với phân phối dữ liệu.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> SI cho thấy mối liên quan mức độ trung bình đến mạnh với khối cơ và chức năng cơ, bao gồm tương quan thuận với SMI (r = 0,488; p < 0,001) và HGS (r = 0,654; p < 0,001), đồng thời tương quan nghịch với thời gian đi bộ (r = -0,429; p < 0,001) và tuổi (r = -0,506; p < 0,001), trong khi không liên quan với BMI (r = 0,08; p = 0,428). Tỷ lệ Cre/CysC cũng cho thấy mối liên quan có ý nghĩa với SMI (r = 0,377; p < 0,001), HGS (r = 0,537; p < 0,001), thời gian đi bộ (r = -0,317; p = 0,002) à tuổi (r = -0,215; p = 0,042), và không liên quan với BMI (r = -0,084; p = 0,432). Ngược lại, eGFRdiff không liên quan với SMI, thời gian đi bộ hay BMI, và chỉ cho thấy mối liên quan yếu với HGS (r = 0,231; p = 0,028).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Ở bệnh nhân bệnh thận mạn, SI thể hiện mối liên quan mạnh nhất và nhất quán nhất với các chỉ số chức năng cơ và quá trình lão hóa, trong khi tỷ lệ Cre/CysC phản ánh đồng thời cả khối cơ và chức năng cơ với mức độ ảnh hưởng thấp bởi BMI. Ngược lại, eGFRdiff chỉ liên quan yếu với sức cơ và không phản ánh nhất quán khối cơ hoặc khả năng vận động. Những kết quả này cho thấy SI và Cre/CysC phù hợp hơn eGFRdiff trong việc phản ánh tình trạng cơ ở bệnh nhân bệnh thận mạn.</p>Trần Công HậuĐoàn Trúc QuỳnhLê Quốc Tuấn
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4849GIÁ TRỊ ẤN ĐỊNH VÀ KẾT QUẢ Z-SCORE CỦA MẪU NGHIÊN CỨU NGOẠI KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG XÉT NGHIỆM ĐÔNG MÁU TRÊN ĐA THIẾT BỊ
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4850
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định giá trị ấn định và đánh giá kết quả Z-score của các phòng xét nghiệm tham gia mẫu nghiên cứu ngoại kiểm tra chất lượng xét nghiệm đông máu.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Mẫu nghiên cứu ngoại kiểm tra chất lượng xét nghiệm đông máu gồm 3 mức nồng độ sau khi sản xuất được gửi đến 67 phòng xét nghiệm tham gia tại thành phố Hồ Chí Minh, Huế và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Dùng phương pháp thống kê mạnh theo ISO 13528:2022 nhằm xác định giá trị ấn định các thông số PT, APTT, fibrinogen trên dữ liệu phòng xét nghiệm gửi về và đánh giá tỷ lệ phòng xét nghiệm có Z-score chấp nhận trên 3 nhóm thiết bị Sysmex CS series, Stago Compact Max, ACL TOP series.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Giá trị ấn định của mẫu nghiên cứu có sự biến thiên trên 10% ở thông số PT và APTT do sự khác nhau về phương pháp đo giữa các thiết bị. Đánh giá kết quả Z-score, cho thấy 100% phòng xét nghiệm có Z-score nằm trong khoảng chấp nhận đối với thông số fibrinogen, trên 85% đối với thông số APTT và trên 70% đối với thông số PT.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Nghiên cứu cung cấp thông tin thực trạng của các phòng xét nghiệm nhằm hỗ trợ giám sát, đào tạo, cải tiến chất lượng xét nghiệm. Kết quả nghiên cứu tạo tiền đề để ứng dụng triển khai mẫu ngoại kiểm tra chất lượng xét nghiệm đông máu đến các phòng xét nghiệm trong thời gian tới.</p>Võ Ngọc NguyênVũ Đình DũngNguyễn Thị Hồng PhươngVũ Đình DũngNguyễn Ngọc CườngKhang Bảo KhánhNguyễn Thị Trúc Linh
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4850SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG Ở NHÓM BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 CÓ VÀ KHÔNG CÓ ALBUMIN NIỆU
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4851
<p><strong>Mục tiêu</strong><strong>:</strong> Nghiên cứu nhằm so sánh đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng giữa hai nhóm bệnh nhân bệnh thận đái tháo đường có albumin niệu và bệnh thận đái tháo đường không albumin niệu.</p> <p><strong>Đối tượng</strong><strong> và</strong><strong> phương pháp</strong><strong>:</strong> Nghiên cứu cắt ngang trên 181 bệnh nhân đái tháo đường type 2 (eGFR < 60 mL/phút/1,73m²) tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh - Cơ sở 2. Các chỉ số đánh giá bao gồm đặc điểm lâm sàng, bilan lipid máu, eGFR, UACR, homocysteine, chỉ số viêm miễn dịch hệ thống (SII) và chỉ số dinh dưỡng (PNI).</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỉ lệ bệnh thận đái tháo đường không albumin niệu chiếm 35%. Nhóm bệnh thận đái tháo đường có albumin niệu có tuổi trung bình thấp hơn (65,2 so với 67,9 tuổi, p = 0,0401), nữ giới ưu thế (64,4% so với 47,6%, p = 0,029), và huyết áp kém kiểm soát hơn (huyết áp tâm thu 144,6 mmHg so với 134,9 mmHg, p = 0,011). Nhóm bệnh thận đái tháo đường không albumin niệu có eGFR tốt hơn (43,7 mL/phút/1,73 m² so với 33,6 mL/phút/1,73 m², p < 0,001), albumin máu cao hơn (4,3 g/dL so với 4,1 g/dL, p = 0,0002), SII thấp hơn (464,6 so với 574,2, p = 0,0145), và PNI cao hơn (56,5 so với 53,1, p = 0,0001). Không có sự khác biệt về BMI, thời gian đái tháo đường, kiểm soát đường huyết (glucose máu lúc đói, HbA1c) và homocysteine giữa hai nhóm.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Bệnh thận đái tháo đường biểu hiện qua nhiều kiểu hình với đặc tính sinh học, tình trạng viêm và dinh dưỡng khác biệt. Việc chỉ dựa vào UACR là không đủ để sàng lọc và phân tầng nguy cơ. Các chỉ số SII và PNI là những công cụ tiềm năng giúp nhận diện kiểu hình và định hướng chiến lược điều trị cá thể hóa.</p>Lê Trọng NhânTrần Văn TiếnTrần Trương Trung TínhLê Quốc Tuấn
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4851MỐI LIÊN QUAN GIỮA CHỈ SỐ VIÊM - CHUYỂN HÓA VÀ CHỨC NĂNG THẬN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2: VAI TRÒ CỦA THỪA CÂN VÀ BÉO PHÌ
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4852
<p> </p> <p><strong>Mục tiêu: </strong>Khảo sát mối liên quan giữa chỉ số viêm - chuyển hóa với chức năng thận ở bệnh nhân đái tháo đường type 2, đặc biệt là ở những người thừa cân và béo phì.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu cắt ngang trên 262 bệnh nhân được chẩn đoán đái tháo đường type 2 đến khám tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh - Cơ sở 2. Bệnh nhân được phân nhóm theo BMI (< 25 kg/m² và ≥ 25 kg/m²) để phân tích.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Trong nhóm bệnh nhân có BMI ≥ 25 kg/m², giá trị chỉ số viêm - chuyển hóa cao hơn đáng kể và chỉ số viêm - chuyển hóa tương quan nghịch với eGFR (r = -0,28, p = 0,0063), tương quan thuận với UACR (r = 0,24, p = 0,0208). Cũng trong nhóm này, phân tích hồi quy đa biến cho thấy chỉ số viêm - chuyển hóa là yếu tố dự báo độc lập của giảm eGFR sau khi hiệu chỉnh theo tuổi và hemoglobin (p < 0,001), đồng thời dự báo eGFR < 60 mL/phút/1,73 m² với diện tích dưới đường cong ROC đạt 0,8084.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Chỉ số viêm - chuyển hóa có liên quan độc lập với suy giảm chức năng thận ở bệnh nhân đái tháo đường type 2, những phát hiện này cho thấy chỉ số viêm - chuyển hóa có thể là một chỉ số viêm - chuyển hóa đơn giản và đáng tin cậy trong nhận diện sớm nguy cơ bệnh thận mạn trong thực hành lâm sàng, đặc biệt ở những người thừa cân và béo phì.</p>Trần Trương Trung TínhLê Quốc Tuấn
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4852KHẢO SÁT NỒNG ĐỘ PARATHYROID HORMONE, CANXI, PHOSPHO VÀ HEMOGLOBIN Ở NGƯỜI BỆNH THẬN MẠN ĐIỀU TRỊ BẰNG LỌC MÀNG BỤNG VÀ LỌC MÁU CHU KỲ
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4853
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát các chỉ số sinh hóa gồm hormon tuyến cận giáp, canxi, phospho và hemoglobin giữa 2 nhóm người bệnh suy thận mạn đang điều trị bằng lọc máu chu kỳ và lọc màng bụng, nhằm xác định hiệu quả kiểm soát chuyển hóa khoáng và tình trạng thiếu máu theo khuyến cáo KDIGO (2012).</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 185 người bệnh tại Khoa Nội thận - Lọc máu, Bệnh viện Thống Nhất, trong đó 57 người điều trị bằng lọc màng bụng và 128 người điều trị bằng lọc máu chu kỳ từ tháng 11/2022 đến tháng 10/2024. Các chỉ số sinh hóa được phân tích và so sánh giữa 2 nhóm bằng các phương pháp thống kê phù hợp.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm lọc máu ở tất cả các chỉ số (hormon tuyến cận giáp, canxi, phospho, hemoglobin). Lọc màng bụng kiểm soát phospho tốt hơn lọc máu chu kỳ với trung vị (khoảng từ phân vị) là 1,5 (1,09-1,91) và 1,75 (1,375-2,125), p < 0,05). Mối tương quan thuận nhẹ giữa hormon tuyến cận giáp và hemoglobin được ghi nhận ở nhóm lọc màng bụng (rho = 0,268; p < 0,05). Tỷ lệ đạt chuẩn KDIGO (2012): hormon tuyến cận giáp khoảng 60%, canxi > 50%, hemoglobin > 33%, phospho thấp nhất (10,7-15,8%), Ca × P > 98%.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Cả 2 phương pháp lọc máu đều có hiệu quả tương đương trong kiểm soát các chỉ số sinh hóa theo KDIGO (2012). Lọc màng bụng cho thấy ưu thế trong loại bỏ phospho và có thể hỗ trợ cải thiện tình trạng thiếu máu.</p>Nguyễn Thị Thanh PhươngĐường Thị Hồng Diệp
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4853ỨNG DỤNG CHỈ SỐ THIỂU CƠ TỪ XÉT NGHIỆM CHỨC NĂNG THẬN TRONG DỰ BÁO THIỂU CƠ Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4854
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Nghiên cứu nhằm khảo sát mối liên quan giữa chỉ số thiểu cơ với sức khỏe cơ và đánh giá giá trị bổ sung của chỉ số thiểu cơ trong mô hình dự báo thiểu cơ.</p> <p><strong>Phương pháp: </strong>Nghiên cứu cắt ngang trên 74 bệnh nhân đái tháo đường type 2 từ 50 tuổi trở lên, khám tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh - Cơ sở 2 từ tháng 5-10/2025. Thiểu cơ được chẩn đoán theo AWGS 2025 (ASM/BMI và lực bóp tay thấp). Chỉ số thiểu cơ được tính bằng creatinine huyết thanh × eGFRcys, trong đó eGFRcys theo công thức CKD-EPI (2012) dựa trên cystatin C. Hiệu suất chẩn đoán của mô hình truyền thống (mô hình 1) và mô hình kết hợp chỉ số thiểu cơ (mô hình 2) được đánh giá bằng đường cong ROC.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ thiểu cơ và thiểu cơ nặng lần lượt là 41,9% và 12,2%. Chỉ số thiểu cơ tương quan thuận với ASM/BMI (r = 0,38, p < 0,001) và lực bóp tay (r = 0,52, p < 0,001). Việc bổ sung chỉ số thiểu cơ giúp tăng độ chính xác chẩn đoán từ AUC = 0,8492 (mô hình 1) lên AUC = 0,8807 (mô hình 2). Chỉ số thiểu cơ là yếu tố dự báo độc lập (OR = 1,06; p = 0,018)</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Chỉ số thiểu cơ là dấu ấn hóa sinh hữu ích, giúp nâng cao độ chính xác chẩn đoán thiểu cơ khi kết hợp với các phương pháp truyền thống và có tiềm năng ứng dụng tầm soát thực tế tại các phòng khám ngoại trú.</p>Đoàn Trúc QuỳnhNguyễn Thị LệLê Quốc Tuấn
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4854SO SÁNH HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH FRAX VÀ MÔ HÌNH GARVAN TRONG ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ GÃY XƯƠNG Ở PHỤ NỮ MÃN KINH MẮC ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4855
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Khảo sát tỷ lệ gãy xương do loãng xương và so sánh giá trị phân biệt của mô hình FRAX và GARVAN trong đánh giá nguy cơ gãy xương ở phụ nữ mãn kinh mắc đái tháo đường type 2 tại Việt Nam.</p> <p><strong>Phương pháp</strong><strong>:</strong> Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 94 phụ nữ mãn kinh mắc đái tháo đường type 2 đến khám tại các khoa Nội tiết, Cơ xương khớp và Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương từ tháng 8/2025 đến tháng 1/2026.</p> <p>Tuổi trung vị của nhóm đối tượng nghiên cứu là 71 tuổi.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tuổi trung vị của nhóm đối tượng nghiên cứu là 71 [68-75]. Tỷ lệ gãy xương hiện tại là 22,3%. Tỷ lệ loãng xương là 89,1% (53,2% tại cột sống thắt lưng và 63,8% tại cổ xương đùi). Diện tích dưới đường cong của mô hình GARVAN cao hơn FRAX ở cả hai chỉ số: nguy cơ gãy xương chung 10 năm (0,789 so với 0,742) và nguy cơ gãy xương hông 10 năm (0,759 so với 0,713), tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p DeLong > 0,05).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Phụ nữ mãn kinh mắc đái tháo đường type 2 có tỷ lệ gãy xương do loãng xương khá phổ biến. Cả hai mô hình FRAX và GARVAN đều cho thấy hiệu năng phân loại tương đương nhau và có khả năng nhận diện các trường hợp gãy xương hiện tại trong nhóm đối tượng nghiên cứu.</p>Cao Đình HưngTrần Quang KhánhNguyễn Đình ThôngVõ Châu Duyên
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4855PHỔ GEN ESBL, AMPC VÀ CARBAPENEMASE Ở ESCHERICHIA COLI PHÂN LẬP TỪ NGƯỜI BỆNH NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NGUYỄN TRI PHƯƠNG (2024-2025)
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4856
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả tỷ lệ và phổ gen ESBL, AmpC, carbapenemase ở <em>Escherichia coli</em> phân lập từ bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, và đánh giá mối liên hệ giữa các gen này với kiểu hình kháng Cephalosporin thế hệ 3-4 và Carbapenem.</p> <p><strong>Phương pháp</strong><strong>:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 141 chủng <em>E.coli</em> phân lập từ bệnh phẩm người bệnh nội trú (3/2024-6/2025). Kháng sinh đồ được thực hiện theo CLSI M100 (2025). Gen ESBL (các nhóm <em>CTX-M</em>), AmpC (<em>CIT, DHA, CMY</em>…) và carbapenemase (<em>NDM, OXA-48…)</em> được phát hiện bằng multiplex real-time PCR.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ sinh ESBL và AmpC lần lượt là 57,4% và 9,9%; không ghi nhận chủng vừa ESBL(+) vừa AmpC(+). Nhóm <em>CTX-M9</em> chiếm ưu thế so với <em>CTX-M1</em>; <em>DHA</em> và <em>CIT/CMY</em> là các gen AmpC chủ đạo. Carbapenemase được phát hiện ở 5,7% chủng (<em>NDM và OXA-48)</em>, tất cả đều mang gen đơn độc. Các nhóm mang ESBL/AmpC có tỷ lệ kháng Cephalosporin thế hệ 3-4 cao; kháng Imipenem chỉ ghi nhận ở các chủng mang carbapenemase.</p> <p><strong>Kết luận</strong><strong>:</strong> <em>E.coli</em> nội trú tại bệnh viện có gánh nặng ESBL và pAmpC cao, với sự ưu thế của nhóm <em>CTX-M9</em> và sự hiện diện bước đầu của <em>NDM/OXA-48</em>, nhấn mạnh nhu cầu giám sát gen kháng thuốc và sử dụng β-lactam hợp lý.</p>Nguyễn Minh HàTrần Văn LợiNguyễn Quang Huy
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4856MỐI LIÊN QUAN GIỮA THANG ĐIỂM SIC VÀ DIC Ở NGƯỜI BỆNH SỐC NHIỄM KHUẨN
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4857
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá mối liên quan giữa thang điểm SIC và DIC ở người bệnh sốc nhiễm khuẩn tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu theo dõi tiến cứu, 47 người bệnh mới chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn nhập Khoa Hồi sức tích cực từ tháng 6/2023 đến tháng 6/2024.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình là 69,77 ± 14,54, tỉ lệ nam/nữ là 0,8/1. Người bệnh ≥ 60 tuổi có tỉ lệ mắc bệnh nền cao hơn đáng kể so với nhóm còn lại. Tỷ lệ người bệnh mắc SIC là 65,96% và DIC là 29,79%. DIC toàn phát chỉ xuất hiện ở người bệnh đủ điểm SIC, mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p = 0,001). Giảm tiểu cầu, giảm fibrinogen, tăng D-dimer và fibrin monomer liên quan chặt chẽ với DIC toàn phát, trong khi INR ít liên quan.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> SIC có giá trị phát hiện sớm rối loạn đông máu và dự báo tiến triển DIC, hỗ trợ hiệu quả cho phân tầng nguy cơ và theo dõi lâm sàng.</p>Phan Vũ Anh MinhPhạm Thị TươiĐoàn Xuân AnNguyễn Thành TrịNguyễn Di LinhBùi Thị Diễm KiềuTrần Thùy Anh
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4857MỐI LIÊN QUAN GIỮA CHỈ SỐ DINH DƯỠNG TIÊN LƯỢNG, TỶ LỆ HEMOGLOBIN/ĐỘ RỘNG PHÂN BỐ HỒNG CẦU VÀ NGUY CƠ NHẬP VIỆN Ở BỆNH NHÂN LỌC MÁU CHU KỲ
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4858
<p><strong>Mục tiêu</strong><strong>:</strong> Nghiên cứu nhằm đánh giá mối liên quan giữa chỉ số dinh dưỡng tiên lượng, tỷ lệ hemoglobin/độ rộng phân bố hồng cầu với nguy cơ nhập viện và xây dựng mô hình dự đoán khả năng nhập viện ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu hồi cứu trên 157 bệnh nhân lọc máu chu kỳ. Nhập viện ít nhất 1 lần trong thời gian nghiên cứu là biến kết cục chính. Hồi quy logistic đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố tiên lượng độc lập. Độ phù hợp của mô hình được đánh giá bằng kiểm định Hosmer-Lemeshow và biểu đồ rừng.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình 53,4 ± 14,2 năm, nam chiếm 53,5%. Tỷ lệ nhập viện là 54,7%, chủ yếu do bệnh tim mạch (56,4%). Nhóm nhập viện có chỉ số dinh dưỡng tiên lượng thấp hơn đáng kể so với nhóm không nhập viện (p = 0,014). Trong mô hình đa biến, chỉ số dinh dưỡng tiên lượng là yếu tố tiên lượng độc lập liên quan đến nguy cơ nhập viện (OR = 0,93; KTC 95%: 0,87-1,00; p = 0,05), trong khi tỷ lệ hemoglobin/độ rộng phân bố hồng cầu và các yếu tố khác không còn ý nghĩa thống kê. Mô hình cho thấy độ phù hợp.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Chỉ số dinh dưỡng tiên lượng là chỉ số đơn giản, chi phí thấp, có giá trị dự đoán độc lập nguy cơ nhập viện ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ.</p>Trần Thị Bảo UyênVũ Trí ThanhVõ Văn HảiLê Quốc Tuấn
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4858NGHIÊN CỨU RỐI LOẠN LIPID MÁU TRÊN BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4859
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ rối loạn lipid máu và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân tăng huyết áp tại Trung tâm Y tế Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 550 bệnh nhân tăng huyết áp từ tháng 3-11 năm 2024. Thông tin thu thập gồm: đặc điểm dân số - xã hội, xét nghiệm lipid máu, BMI, tiền căn gia đình.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Trong khoảng thời gian nghiên cứu, chúng tôi thu được 550 bệnh nhân với tuổi trung bình là 58 ± 14,5; BMI 22,1 ± 2,75 kg/m<sup>2</sup>. Tỷ lệ rối loạn lipid máu nói chung là 77,6%, trong đó rối loạn 2 thành phần lipid máu trở lên chiếm đa số. Ngoài ra một số yếu tố như giới tính, tình trạng thừa cân, béo phì là những yếu tố nguy cơ của rối loạn chuyển hóa lipid.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Tỷ lệ rối loạn chuyển hóa lipid trên nhóm bệnh nhân tăng huyết áp còn cao. Tuổi cao và tình trạng thừa cân, béo phì có liên quan đến rối loạn lipid máu.</p>Nguyễn Chí ThanhLê Thị Kim HươngLê Thị Kim Cương
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4859TỶ LỆ CREATININE/CYSTATIN C VÀ SỰ MẤT TƯƠNG ĐỒNG TRONG ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG THẬN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 NGOẠI TRÚ CÓ TĂNG ĐƯỜNG HUYẾT CẤP
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4860
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu nhằm so sánh tỷ lệ creatinine/cystatin C và mối liên quan với các đặc điểm chuyển hóa và chức năng thận ở bệnh nhân có và không có tăng đường huyết cấp.</p> <p><strong>Đối tượng, phương pháp:</strong> Nghiên cứu bệnh-chứng trên 76 bệnh nhân đái tháo đường type 2 ngoại trú (38 bệnh nhân có tăng đường huyết cấp, glucose máu lúc đói ≥ 180 mg/dL; 38 bệnh nhân ổn định chuyển hóa ghép cặp theo tuổi và giới). Các biến số gồm BMI, glucose máu lúc đói, HbA1c, creatinine, cystatin C, UACR. eGFR được tính theo công thức CKD-EPI creatinine (2021) và CKD-EPI cystatin C (2012). Phân tích tương quan Pearson hoặc Spearman được sử dụng.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Nhóm tăng đường huyết cấp có BMI, glucose đói, HbA1c, creatinine, UACR và creatinine/cystatin C cao hơn, cystatin C thấp hơn (p < 0,001). eGFR-Cre giảm nhưng eGFR-Cys tăng so với nhóm chứng (p < 0,001). Creatinine/cystatin C đảo chiều tương quan với BMI giữa 2 nhóm; và không còn tương quan với HbA1c và eGFR-Cre ở nhóm bệnh.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Tăng đường huyết cấp liên quan đến sự mất tương đồng giữa creatinine và cystatin C. Tỷ lệ creatinine/cystatin C có thể là dấu ấn bổ sung trong đánh giá chức năng thận khi có stress chuyển hóa cấp.</p>Lê Tuyết Minh ChâuTrần Trương Trung TínhNguyễn Tấn ĐứcLê Quốc Tuấn
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4860TƯƠNG QUAN GIỮA HOMOCYSTEINE VÀ CÁC CHỈ SỐ GLYCAT HÓA Ở BỆNH NHÂN BỆNH THẬN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4861
<p><strong>Mục tiêu</strong><strong>:</strong> Nghiên cứu nhằm đánh giá tương quan giữa homocysteine (đại diện của viêm - stress oxy hóa) và các chỉ số glycat hóa (đại diện chuyển hóa đường).</p> <p><strong>Phương pháp</strong><strong>:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 233 bệnh nhân bệnh thận đái tháo đường đủ từ 18 tuổi trở lên khám ngoại trú tại Khoa Khám Bệnh của Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chính Minh - Cơ sở 2. Các đặc điểm lâm sàng (tuổi, giới tính, BMI, huyết áp, thời gian mắc đái tháo) đường type 2 được ghi nhận đồng thời với các thông số cận lâm sàng như bilan lipid máu, các chỉ số glycat hóa (xét nghiệm đường huyết lúc đói, HbA1c, fructosamine và khoảng trống glycat hóa), creatinine và cystatin C huyết tương để đánh giá độ lọc cầu thận ước đoán (eGFR), UACR để đánh giá mức độ albumin niệu, homocysteine.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> 233 bệnh nhân bệnh thận đái tháo đường có tuổi trung bình 64,0 ± 10,4 tuổi, nữ giới chiếm ưu thế. eGFR trung bình 50,7 ± 25,5 mL/phút/1,73 m<sup>2</sup>, UACR trung bình là 341,4 ± 671,5 mg/g, homocysteine trung bình 14,9 ± 6,2 µmol/L. Homocysteine có tương quan nghịch yếu với HbA1c (glycat hóa nội bào) (r = -0,158, p = 0,016) nhưng không có tương quan với fructosamin (glycat hóa ngoại bào). Homocysteine cũng có tương quan nghịch yếu với khoảng trống glycat hóa (r = -0,144, p = 0,028).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Homocysteine có tương quan nghịch yếu với HbA1c và khoảng trống glycat hóa, nhưng không có tương quan với fructosamine. Điều này gợi ý homocysteine có liên quan đến những sản phẩm glycat hóa bền vững (HbA1c), nhưng có thể không liên quan đến những sản phẩm glycat hóa có thời gian bán thải ngắn.</p>Trần Văn TiếnNguyễn Thị LệThái Thanh Trúc
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4861KHẢO SÁT MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ FIBRINOGEN VÀ CÁC THÔNG SỐ PHÂN TÍCH DẠNG SÓNG ĐÔNG MÁU TẠI BỆNH VIỆN HOÀN MỸ SÀI GÒN
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4862
<p><strong>Mục tiêu</strong><strong>:</strong> So sánh các thông số phân tích dạng sóng đông máu (CWA) bao gồm tốc độ tối đa (Min1), gia tốc tối đa (Min2), giảm tốc tối đa (Max2) giữa nhóm có nồng độ fibrinogen bình thường và bất thường, trong khi thời gian APTT và PT nằm trong giới hạn bình thường. Đồng thời, khảo sát mối liên quan giữa nồng độ fibrinogen và các thông số CWA.</p> <p><strong>Phương pháp</strong><strong>:</strong> Nghiên cứu phân tích cắt ngang mô tả có đối chứng, tiến hành từ tháng 6-9 năm 2025 tại Khoa Xét nghiệm, Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn. Trên 631 mẫu bệnh phẩm có kết quả PT và APTT trong giới hạn bình thường, trong đó 475 mẫu có fibrinogen bình thường và 156 mẫu có fibrinogen bất thường. Các xét nghiệm PT, APTT và fibrinogen được thực hiện trên hệ thống đông máu tự động CS-2500. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.</p> <p><strong>Kết quả</strong><strong>:</strong> Ở nhóm fibrinogen bình thường, trung vị Min1, Min2 và Max2 lần lượt là 5,05 (4,45-5,73), 0,81 (0,71-0,92) và 0,67 (0,59-0,78). Trong khi đó, nhóm fibrinogen cao có Min1 là 7,48 (7,04-8,31), Min2 là 1,20 (1,13-1,33) và Max2 là 1,01 (0,95-1,11). Tình trạng giảm fibrinogen hiếm gặp trong nghiên cứu, cho thấy tăng fibrinogen phổ biến hơn. Khi nồng độ fibrinogen tăng, các chỉ số Min1, Min2, Max2 cũng tăng đáng kể, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm (p < 0,001). Phân tích tương quan Spearman ghi nhận mối tương quan thuận giữa nồng độ fibrinogen và các chỉ số CWA (r<sub>s</sub> > 0,9, p < 0,001), trong đó Min1 có tương quan mạnh nhất (r<sub>s</sub> = 0,968). Các mô hình hồi quy đơn biến khẳng định khả năng dự báo fibrinogen từ cả 3 thông số, với Min1 thể hiện độ phù hợp cao nhất (R² = 0,653; RMSE = 1,789 thấp nhất).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Nghiên cứu cho thấy sự gia tăng nồng độ fibrinogen đi cùng với sự tăng đáng kể của các thông số Min1, Min2 và Max2. Các chỉ số CWA có mối tương quan thuận, chặt chẽ và có ý nghĩa thống kê với fibrinogen. Trong các mô hình dự báo, Min1 thể hiện giá trị tiên đoán tốt nhất đối với nồng độ fibrinogen</p>Nguyễn Thị Hồng NhiênVõ Thị Thùy NgaLê Minh ThuậnNguyễn Thị Hà
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4862KHẢO SÁT NỒNG ĐỘ PROCALCITONIN VÀ PHÂN TẦNG NỒNG ĐỘ PROCALCITONIN TRÊN 3 NHÓM BỆNH NHÂN CÓ SỐT DO NHIỄM KHUẨN HUYẾT, SỐT XUẤT HUYẾT VÀ KÝ SINH TRÙNG
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4863
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát nồng độ và phân tầng nồng độ PCT trên các nhóm bệnh nhân có sốt do nhiễm khuẩn huyết, sốt xuất huyết và nhiễm ký sinh trùng.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu trên 275 bệnh nhân có sốt ≥ 38<sup>o</sup>C được chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết (137 ca), sốt xuất huyết (108 ca) và nhiễm ký sinh trùng (30 ca) đang điều trị nội trú tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh và Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 11/2024-10/2025. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang. Đo nồng độ PCT trên máy DxI 800 của hãng Beckman Coulter.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của nhóm nhiễm khuẩn huyết là 64,16; nhóm sốt xuất huyết là 27,58; nhóm ký sinh trùng là 38,32 (p ˂ 0,001); về giới tính nam và nữ của 3 nhóm không có sự khác biệt (p = 0,595). Nồng độ PCT cao nhất ở nhóm nhiễm khuẩn huyết, kế đến là nhóm ký sinh trùng và nhóm sốt xuất huyết, sự khác biệt giữa các nhóm có ý nghĩa thống kê (p ˂ 0,001). Trong phân tầng nồng độ PCT, 2 nhóm bệnh nhân sốt xuất huyết và ký sinh trùng đa số nằm ở phân tầng thấp nhất (dưới 0,5 ng/ml): 69,4-77%; ngược lại, nhóm nhiễm khuẩn huyết có nồng độ PCT tăng rất cao ở phân tầng ≥ 2 ng/ml (65%).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Nồng độ và phân tầng PCT ở các nhóm bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết, sốt xuất huyết và ký sinh trùng giúp lâm sàng có thể nhận định ngay từ đầu để có chỉ định trong chẩn đoán sớm và điều trị đặc hiệu, kịp thời cho bệnh nhân.</p>Lê Xuân Minh PhúcLê Xuân TrườngNguyễn Thị Băng SươngNguyễn Thị HóaNguyễn Thị Nhung
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4863KHẢO SÁT ĐỘNG HỌC PROCALCITONIN TRÊN BỆNH NHÂN NHIỄM KHUẨN HUYẾT
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4864
<p><strong>Mục tiêu</strong><strong>: </strong>Theo dõi sự thay đổi nồng độ procalcitonin trên các bệnh nhân có và không đáp ứng với điều trị kháng sinh.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>50 bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết (cấy máu dương tính) điều trị nội trú tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh, thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 11/2024 đến tháng 10/2025. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu. Đo nồng độ procalcitonin trên máy DxI 800 ở nhiều thời điểm khác nhau.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tuổi trung bình của bệnh nhân 58,08; tỷ lệ nữ/nam = 1,7. Nồng độ procalcitonin của bệnh nhân lúc mới nhập viện 19,48 ng/ml (trung vị 3,73 ng/ml), trong đó tỷ lệ nhiễm khuẩn Gram (-) 68% và nhiễm khuẩn Gram (+) 32%. Nồng độ procalcitonin trung bình ở nhóm đáp ứng với điều trị kháng sinh tại các thời điểm 0 giờ, 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ và 5-7 ngày sau điều trị thay đổi như sau: 15,29 ng/ml; 17,77 ng/ml; 8,31 ng/ml; 3,22 ng/ml và 0,87 ng/ml, sự khác biệt giữa các lần xét nghiệm có ý nghĩa thống kê (p = 0,001). Nồng độ procalcitonin trung bình ở nhóm không đáp ứng với điều trị kháng sinh tại các thời điểm 0 giờ, 24 giờ, 48 giờ và 72 giờ thay đổi như sau: 38,57 ng/ml; 69,68 ng/ml; 22,27 ng/ml và 17,04 ng/ml, sự khác biệt giữa các lần xét nghiệm không có ý nghĩa thống kê (p = 0,180).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Nồng độ procalcitonin giảm sớm trong những ngày đầu ở bệnh nhân nếu đáp ứng với điều trị kháng sinh; ngược lại, nồng độ procalcitonin giảm ít hoặc không thay đổi nhiều trên bệnh nhân không đáp ứng với điều trị kháng sinh.</p>Lê Xuân Minh PhúcLê Xuân TrườngNguyễn Thị Băng SươngNguyễn Thị HóaQuách Ngọc Tường Vi
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4864ĐÁNH GIÁ SỰ TƯƠNG ĐỒNG KẾT QUẢ ĐIỆN GIẢI GIỮA HỆ THỐNG KHÍ MÁU ĐỘNG MẠCH VÀ HỆ THỐNG SINH HÓA TỰ ĐỘNG
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4865
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá sai số, tương quan và giới hạn đồng thuận giữa máu động mạch và máu tĩnh mạch trong xét nghiệm điện giải đồ.</p> <p><strong>Phương pháp: </strong>Thiết kế mô tả cắt ngang, tiến cứu, thực hiện tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định từ tháng 6-12 năm 2025. Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân nhập viện có chỉ định xét nghiệm đồng thời khí máu động mạch và xét nghiệm sinh hóa hoặc miễn dịch sử dụng ống lithium heparin. Mỗi bệnh nhân được lấy 2 mẫu máu cùng lúc, phân tích bằng máy khí máu RapidPoint 500 (ISE trực tiếp) và máy sinh hóa AU5800 (ISE gián tiếp). Phân tích thống kê gồm kiểm định t-test ghép cặp, hệ số tương quan Pearson và biểu đồ Bland-Altman.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>347 cặp mẫu máu động mạch và tĩnh mạch được thu thập đồng thời và phân tích 3 thông số điện giải gồm Na⁺, K⁺ và Cl⁻. Giá trị trung bình của các chỉ số điện giải trong máu động mạch đều thấp hơn so với máu tĩnh mạch. Hiệu số trung bình (động mạch - tĩnh mạch) lần lượt là -3,11 mmol/L đối với Na⁺, -0,45 mmol/L đối với K⁺ và -2,58 mmol/L đối với Cl⁻; tất cả đều có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Hệ số tương quan Pearson cho thấy mối tương quan tuyến tính mạnh giữa 2 loại mẫu (Na⁺: r = 0,857; K⁺: r = 0,887; Cl⁻: r = 0,853; p < 0,001). Tuy nhiên, phân tích Bland-Altman ghi nhận giới hạn đồng thuận rộng, đặc biệt đối với Na⁺ và Cl⁻, K<sup>+</sup> có độ lệch nhỏ hơn Na<sup>+</sup> và Cl<sup>-</sup> nhưng vẫn không đạt chuẩn TEa cả về bias và LoA. Khi đối chiếu với giới hạn sai số toàn phần cho phép (TEa), tỷ lệ mẫu vượt ngưỡng chấp nhận lâm sàng ở mức cao (Na⁺: 37,8%; K⁺: 33,4%; Cl⁻: 82,7%), cho thấy mức độ không đồng thuận đáng kể giữa 2 phương pháp đo.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Nghiên cứu cho thấy tồn tại sự khác biệt có ý nghĩa giữa kết quả điện giải đo từ máu động mạch (ISE trực tiếp) và máu tĩnh mạch (ISE gián tiếp). Mức độ sai lệch vượt ngưỡng sai số toàn phần cho phép, đặc biệt đối với Na⁺ và Cl⁻, cho thấy 2 phương pháp không thể sử dụng thay thế cho nhau trong thực hành lâm sàng. Tuy nhiên, kết quả K⁺ từ khí máu có thể được sử dụng để tham khảo trong trường hợp cấp cứu khi không thể lấy mẫu máu tĩnh mạch, nhưng cần xác nhận lại bằng xét nghiệm sinh hóa trong điều kiện thường quy.</p>Huỳnh Ngọc TânVõ Anh ThoạiĐỗ Thị Xuân ĐàoNguyễn Hương GiangĐặng Thị Ngọc Sang
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4865KHẢO SÁT MỐI LIÊN QUAN GIỮA CHỈ SỐ FIB-4 VÀ CHỨC NĂNG THẬN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4866
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Khảo sát mối liên quan giữa chỉ số FIB-4 và chức năng thận ở bệnh nhân đái tháo đường type 2.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 130 bệnh nhân được chẩn đoán đái tháo đường type 2 đến khám tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh - Cơ sở 2. Chỉ số FIB-4 được tính dựa trên tuổi, AST, ALT và tiểu cầu.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Trong 130 bệnh nhân đái tháo đường type 2, FIB-4 tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê với eGFR (r = -0,25; p = 0,0038), cholesterol toàn phần (r = -0,29; p = 0,001) và LDL-C (r = -0,27; p = 0,002). Trong mô hình hồi quy tuyến tính đa biến, FIB-4 cao (β = -8,36; p = 0,001) và hemoglobin thấp (β = 5,17; p < 0,001) liên quan độc lập với giảm eGFR. Trong mô hình hồi quy logistic, FIB-4 (p = 0,005) và hemoglobin (p = 0,003) tiếp tục là các yếu tố dự đoán độc lập eGFR < 60 mL/phút/1,73 m² với diện tích dưới đường cong ROC là 0,7284.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Chỉ số FIB-4 và hemoglobin liên quan độc lập với suy giảm chức năng thận ở bệnh nhân đái tháo đường. Trong điều kiện ổn định và không tổn thương gan cấp, FIB-4 có thể là chỉ dấu đơn giản và hữu ích để nhận diện sớm nguy cơ bệnh thận mạn trong thực hành lâm sàng.</p>Hồ Thanh AnĐỗ Thành AnTrần Trương Trung TínhLê Quốc Tuấn
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4866KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC THẢO DƯỢC VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NGUYỄN TRI PHƯƠNG NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4867
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến việc sử dụng thảo dược ở bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang trên 590 bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú từ tháng 3-5 năm 2025. Dữ liệu thu thập qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi cấu trúc.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong 590 người tham gia, 38,1% sử dụng thảo dược trong vòng 12 tháng, nhưng chỉ có 8,9% nhằm điều trị hoặc phòng ngừa tăng huyết áp; đa số không khai báo với nhân viên y tế (90,7%). Phân tích đa biến cho thấy nữ giới (AOR: 2,14; 95% CI: 1,559-4,053) và người hút thuốc (AOR: 3,222; 95% CI: 1,564-6,638) có khả năng sử dụng cao hơn. So với nhóm đã nghỉ hưu, nội trợ (AOR: 0,305; 95% CI: 0,178-0,523) và các nghề khác (AOR: 0,338; 95% CI: 0,193-0,591) có khả năng sử dụng thấp hơn.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sử dụng thảo dược khá phổ biến ở bệnh nhân tăng huyết áp. Do đó, cần tăng cường công tác quản lý, tích hợp sàng lọc thường quy trong thực hành lâm sàng.</p>Nguyễn Vủ HảoVũ Cao Hoàng YếnPhan Đặng Thục AnhTrần Thị Mai HàVõ Thị Hà
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4867TRIỂN KHAI VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ LÂM SÀNG CỦA THEO DÕI NỒNG ĐỘ VANCOMYCIN DỰA TRÊN AUC TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC - CHỐNG ĐỘC, BỆNH VIỆN NGUYỄN TRI PHƯƠNG
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4869
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá việc triển khai và hiệu quả lâm sàng của theo dõi nồng độ Vancomycin theo AUC ở người bệnh hồi sức tích cực - chống độc, đồng thời đánh giá khả năng dự đoán của mô hình dược động học quần thể (popPK) và phương pháp Bayes.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu hồi cứu, thực hiện trên người bệnh trưởng thành tại Khoa Hồi sức tích cực - Chống độc, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương từ tháng 8/2023 đến tháng 5/2024. AUC<sub>24</sub> được ước tính bằng phần mềm PrecisePK® dựa trên mô hình Rodvold. Hiệu quả lâm sàng được đánh giá thông qua tỷ lệ đạt đích AUC<sub>24</sub> (400-600 mg.h/L). Khả năng dự đoán của popPK và phương pháp Bayes được xác định thông qua độ lệch tương đối (% rBias) và độ chính xác (rRMSE).</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Nghiên cứu bao gồm 91 người bệnh; độ tuổi trung bình cao (65,7 tuổi); độ thanh thải creatinine thấp (trung bình 45,0 mL/phút), với 80,2% người bệnh có độ thanh thải creatinine ≤ 60 mL/phút, trong đó 65,9% người bệnh được dùng liều tải và 63,7% có liều duy trì ban đầu phù hợp. Tỷ lệ đạt đích AUC<sub>24</sub> ở lần đo đầu tiên là 36,3% và sau khi hiệu chỉnh liều đạt 69,8%. Trong số người bệnh có độ thanh thải creatinin < 60 mL/phút, 67,1% có có AUC<sub>24</sub> > 600 mg.h/L. Phương pháp Bayes giúp cải thiện độ chính xác dự báo (rBias -10,6%, rRMSE 18,4%) so với mô hình quần thể (rBias +17,4%, rRMSE 44,3%).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Theo dõi nồng độ Vancomycin trong máu theo AUC giúp cải thiện tỷ lệ đạt đích ở người bệnh và có tính khả thi trong thực hành lâm sàng. Hiệu chỉnh liều theo phương pháp Bayes giúp cải thiện tỷ lệ đạt đích và độ chính xác dự đoán, hỗ trợ cá thể hóa điều trị trên đối tượng bệnh nặng.</p>Võ Nguyễn Mỹ NgânĐỗ Trần Khánh VyĐặng Ngọc Kim ThanhLê Bá HảiVõ Thị Hà
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4869NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA MÔ MỠ TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4870
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát mối tương quan giữa hình thái của mô mỡ thông qua tỷ lệ mỡ cơ thể và hoạt tính của mô mỡ thông qua chỉ số chỉ số mỡ nội tạng với tình trạng kiểm soát đường máu kém ở người bệnh đái tháo đường.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích được thực hiện ở 90 bệnh nhân được chẩn đoán đái tháo đường theo tiêu chuẩn ADA (2025) tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh - Cơ sở 2. Tiêu chí đánh giá kiểm soát đường máu kém là HbA1c ≥ 7,0%. Đánh giá tương quan giữa các biến bằng phép kiểm Spearman.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Người tham gia trong nghiên cứu tương đối lớn tuổi (trung vị 66 tuổi). Có khoảng 58% bệnh nhân kiểm soát đường máu kém. Chỉ số mỡ nội tạng có tương quan yếu với fasting plasma glucose (rho = 0,207); trung bình với HbA1c (rho = 0,308) và kiểm soát đường máu (rho = 0,322), trong khi tỷ lệ mỡ cơ thể chỉ cho thấy mối tương quan yếu với glucose máu lúc đói (rho = 0,221, p < 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Phần lớn bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều có rối loạn hình thái, hoạt động của mô mỡ; thể hiện qua giá trị của tỷ lệ mỡ cơ thể và chỉ số mỡ nội tạng cao hơn so với các nghiên cứu trước đây. Chỉ số mỡ nội tạng và tỷ lệ mỡ cơ thể đều có ảnh hưởng đến đường máu và mức độ kiểm soát đường máu.</p>Bùi Đức Minh BảoHoàng Bùi Thảo NguyênLê Quốc Tuấn
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4870CHỈ SỐ TỰ PHÁT HUỲNH QUANG Ở DA VÀ GÁNH NẶNG CHUYỂN HÓA TÍCH LŨY Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4871
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát mối liên quan giữa tự phát huỳnh quang ở da và tình trạng béo phì ở bệnh nhân đái tháo đường type 2, đồng thời đánh giá vai trò của tự phát huỳnh quang ở da và chỉ số khối cơ thể trong mối liên quan với kiểm soát đường huyết và chức năng thận.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 149 bệnh nhân đái tháo đường type 2. Bệnh nhân được phân nhóm theo chỉ số khối cơ thể (< 25 kg/m² và ≥ 25 kg/m²). Tự phát huỳnh quang ở da được đo bằng thiết bị AGE Reader mu. Các biến lâm sàng và sinh hóa bao gồm chỉ số khối cơ thể, HbA1c và mức lọc cầu thận ước đoán. Kiểm soát đường huyết kém được định nghĩa là HbA1c ≥ 7%.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa về tự phát huỳnh quang ở da giữa các nhóm chỉ số khối cơ thể (p > 0,05). Chỉ số khối cơ thể thấp liên quan với kiểm soát đường huyết kém (HbA1c ≥ 7%) (OR = 0,89; p < 0,05), gợi ý kiểu hình “đái tháo đường gầy”. Ngược lại, tự phát huỳnh quang ở da có tương quan thuận với tuổi (r = 0,26, p < 0,01) và có mối tương quan nghịch với chức năng thận của bệnh nhân (r = -0,31, p < 0,01).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Tự phát huỳnh quang ở da không liên quan với tình trạng béo phì nhưng có mối liên quan với tuổi và chức năng thận ở bệnh nhân đái tháo đường type 2, gợi ý vai trò của tự phát huỳnh quang ở da như một dấu ấn bổ sung phản ánh gánh nặng chuyển hóa tích lũy.</p>Tăng Mỹ NgânLê Quốc TuấnNguyễn Thị Bích Đào
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4871XÁC NHẬN GIÁ TRỊ SỬ DỤNG VÀ KHOẢNG THAM CHIẾU CỦA XÉT NGHIỆM ĐỊNH LƯỢNG APOLIPOPROTEIN B TRONG HUYẾT TƯƠNG Ở NGƯỜI 41-60 TUỔI
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4872
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác nhận giá trị sử dụng (độ chụm, độ đúng, khoảng tuyến tính) và khoảng tham chiếu của xét nghiệm định lượng apolipoprotein B huyết tương trên hệ thống Cobas® C501 tại Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á cho nhóm người 41-60 tuổi.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Xác nhận giá trị sử dụng theo CLSI EP15-A3 và EP06, sử dụng TEa = 11,6% theo tiêu chí biến thiên sinh học (EFLM). Xác nhận khoảng tham chiếu theo CLSI EP28-A3c trên 66 người khỏe mạnh (25 nam, 41 nữ) độ tuổi 41-60.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Xét nghiệm đạt yêu cầu về độ chụm (CVR: 0,92-0,98%; CVWL: 1,01-1,59%; giới hạn lần lượt ≤ 2,90% và ≤ 3,83%), độ đúng (%Bias: 1,64-1,71%; giới hạn ≤ 5,80%) và tuyến tính (R = 1,0000; slope = 1,0171; khoảng 19,33-165,00 mg/dL). Khoảng tham chiếu nhà sản xuất được xác nhận phù hợp: nhóm nam (n = 24) có 0/24 mẫu ngoài khoảng 66-144 mg/dL; nhóm nữ (n = 41) có 2/41 mẫu (4,9%) ngoài khoảng 60-141 mg/dL, đều đạt ngưỡng chấp nhận (<10%).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Xét nghiệm định lượng apolipoprotein B trên Cobas® C501 đạt độ tin cậy phân tích theo tiêu chí biến thiên sinh học. Khoảng tham chiếu nhà sản xuất phù hợp cho người 41-60 tuổi tại bệnh viện, cung cấp cơ sở khoa học và pháp lý để triển khai xét nghiệm này vào thực hành lâm sàng thường quy.</p>Nguyễn Hữu Ngọc TuấnNguyễn Hải Bằng
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4872ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KIỂU HÌNH ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA KLEBSIELLA PNEUMONIAE PHÂN LẬP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA XUYÊN Á NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4873
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát đặc điểm lâm sàng và mô tả kiểu hình đề kháng kháng sinh của <em>Klebsiella pneumoniae</em> phân lập tại Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á, thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn tháng 1-6 năm 2025.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 50 chủng <em>K.pneumoniae</em> phân lập lần đầu từ các bệnh phẩm lâm sàng. Định danh bằng phương pháp sinh hóa trên hệ thống VITEK 2 Compact và tái định danh bằng kỹ thuật real-time PCR (cặp mồi ZKIR). Thử nghiệm nhạy cảm kháng sinh bằng phương pháp vi pha loãng tự động, phiên giải theo CLSI M100 Ed.35 (2025).</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình 62,7 ± 12,6 tuổi; tỷ lệ nam/nữ bằng nhau. Bệnh đồng mắc phổ biến nhất là tăng huyết áp (58%) và đái tháo đường (54%). Nước tiểu là bệnh phẩm chiếm ưu thế (44%); 86% chủng có nguồn gốc cộng đồng. Toàn bộ 50 chủng (100%) kháng Ampicillin. Tỷ lệ kháng Carbapenem là 48%; đa kháng (MDR) 68%; kháng mở rộng (XDR) 54%; sinh ESBL 18%. Gentamicin là kháng sinh duy nhất còn tỷ lệ nhạy cảm cao (74%).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> <em>K.pneumoniae</em> tại Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á có tỷ lệ kháng Carbapenem và đa kháng ở mức đáng lo ngại. Kết quả cung cấp dữ liệu vi sinh cục bộ đầu tiên phục vụ xây dựng phác đồ kháng sinh kinh nghiệm tại cơ sở.</p>Nguyễn Hữu Ngọc TuấnPhan Văn Tùng
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4873ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP VI PHA LOÃNG KHẢO SÁT ĐỘ NHẠY KHÁNG SINH Ở VI KHUẨN HELICOBACTER PYLORI
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4874
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Ứng dụng phương pháp vi pha loãng nhằm xác định tỷ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn <em>Helicobacter pylori</em> tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh - Cơ sở 2.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 31 chủng vi khuẩn <em>H.pylori</em> lưu trữ tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh - Cơ sở 2. Các chủng vi khuẩn này được hoạt hóa, định danh và xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) đối với 5 loại kháng sinh: Amoxicillin, Clarithromycin, Levofloxacin, Metronidazole và Tetracycline bằng phương pháp vi pha loãng trên những đĩa sinh phẩm được điều chế bởi phòng thí nghiệm. Kết quả MIC được phiên giải nhạy/kháng dựa trên tiêu chuẩn EUCAST v15.0.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Toàn bộ 31 chủng vi khuẩn đã phân lập đều sinh trưởng được trong môi trường của kỹ thuật vi pha loãng và có thể nhận định bằng mắt thường dưới sự hỗ trợ của bàn hắt sáng. Tỷ lệ đề kháng của <em>H.pylori</em> đối với các kháng sinh Clarithromycin, Metronidazole, Amoxicillin, Levofloxacin và Tetracycline lần lượt là 71%, 54,8%, 51,6%, 51,6% và 0%. Tỷ lệ vi khuẩn nhạy với tất cả kháng sinh khảo sát là 12,9%, trong đó tỷ lệ đề kháng với các kháng sinh trừ Tetracycline là 22,6%. Khi phân loại theo phác đồ điều trị đầu tay, tỷ lệ kháng của phác đồ PALB (Amoxicillin và Levofloxacin) là 35,5%, còn phác đồ PTMB (Metronidazole và Tetracycline) là 0%.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Nghiên cứu đã bước đầu cho thấy tính khả dụng của kỹ thuật vi pha loãng nhằm xác định MIC của kháng sinh đối với vi khuẩn <em>H.pylori</em>. Tỷ lệ đề kháng Metronidazole có sự khác biệt so với các nghiên cứu gần đây tại Việt Nam, có thể đến từ phương pháp ủ khác nhau và cần có những nghiên cứu tiếp theo để đánh giá phương pháp nào phù hợp với lâm sàng hơn. Phác đồ PTMB cho thấy tỷ lệ nhạy cảm tốt, vẫn là một phác đồ đáng tin cậy để điều trị đầu tay với <em>H.pylori</em> tại Việt Nam.</p>Đào Nguyễn An KhangNguyễn Tuấn AnhTrần Thị Kim PhụngNguyễn Thị Thảo VyQuách Hữu LộcTrần Thiện KhiêmHà Mạnh Tuấn
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4874ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ HIỆN MẮC BỆNH ĐẾN HIỆU NĂNG CHẨN ĐOÁN CỦA HỆ THỐNG XÉT NGHIỆM HPV iPonatic mPOCT
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4875
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá hiệu năng chẩn đoán của hệ thống xét nghiệm phân tử tại chỗ iPonatic mPOCT trong phát hiện HPV so với multiplex real-time PCR, đồng thời phân tích ảnh hưởng của các mức tỷ lệ hiện mắc khác nhau đến giá trị dự đoán của xét nghiệm.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu chẩn đoán cắt ngang được thực hiện trên 294 mẫu dịch cổ tử cung của phụ nữ đến khám phụ khoa. Tất cả mẫu được xét nghiệm đồng thời bằng hệ thống iPonatic mPOCT và multiplex real-time PCR (phương pháp tham chiếu). Các chỉ số hiệu năng chẩn đoán bao gồm độ nhạy, độ đặc hiệu, tỷ số khả dĩ dương, tỷ số khả dĩ âm, giá trị dự đoán dương tính, giá trị dự đoán âm tính và độ chính xác được tính toán kèm khoảng tin cậy 95%. Giá trị dự đoán dương tính và giá trị dự đoán âm tính được mô hình hóa theo 3 mức tỷ lệ hiện mắc giả định: 13,6%; 16,5% và 18,82%.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Hệ thống iPonatic đạt độ nhạy 88,6% (95% CI: 75,4-96,2) và độ đặc hiệu 99,2% (95% CI: 97,1-99,9) khi phân tích trên 294 mẫu. Tỷ số khả dĩ dương đạt 110,8 (95% CI: 27,8-442,4) và tỷ số khả dĩ âm đạt 0,11 (95% CI: 0,05-0,26). Khi tỷ lệ hiện mắc tăng từ 13,6% lên 18,82%, giá trị dự đoán dương tính tăng từ 94,6% lên 96,3%, trong khi giá trị dự đoán âm tính giảm nhẹ từ 98,2% xuống 97,4%. Độ chính xác chung của xét nghiệm dao động từ 97,2-97,8%.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Hệ thống iPonatic mPOCT cho thấy độ đặc hiệu rất cao và độ nhạy ở mức tốt khi so sánh với multiplex real-time PCR trong phát hiện HPV. Hiệu năng dự đoán của xét nghiệm chịu ảnh hưởng bởi tỷ lệ hiện mắc của bệnh trong quần thể. iPonatic có tiềm năng ứng dụng trong thực hành lâm sàng, đặc biệt tại các cơ sở y tế có nguồn lực hạn chế hoặc trong bối cảnh tỷ lệ hiện mắc HPV ở mức trung bình đến cao.</p>Nguyễn Tuấn AnhNguyễn Thị Trúc QuyênNguyễn Thị Thảo VyHà Mạnh Tuấn
Copyright (c) 2026
2026-04-212026-04-2110.52163/yhc.v67iCD4.4875