Tạp chí Y học Cộng đồng
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd
<p>Demo</p>Vietnam Institute of Community Healthvi-VNTạp chí Y học Cộng đồng2354-0613ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở TRẺ SƠ SINH SUY HÔ HẤP DO BỆNH MÀNG TRONG TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2024
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4300
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, mức độ trên X quang và các yếu tố liên quan ở trẻ sơ sinh suy hô hấp do bệnh màng trong điều trị tại Bệnh viện Nhi Đồng thành phố Cần Thơ năm 2024.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 120 trẻ sơ sinh chẩn đoán xác định suy hô hấp do bệnh màng trong. Tiêu chuẩn nhận vào gồm biểu hiện lâm sàng điển hình, khí máu động mạch bất thường và X quang phổi phù hợp bệnh màng trong; loại trừ dị tật bẩm sinh nặng và các nguyên nhân khác của suy hô hấp. Dữ liệu trích lục từ hồ sơ bệnh án, phân tích mô tả; mức độ nặng đánh giá bằng thang Silverman-Anderson và phân độ X quang.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Con so chiếm 57,5%; sinh mổ 73,3%. Khi nhập viện, 90% thở rên, 87,5% tím tái và 97,5% rút lõm lồng ngực; SpO<sub>2</sub> < 85% ở 90% bệnh nhi. Hình ảnh X quang cho thấy độ II chiếm 87,5% và độ I chiếm 12,5%. Khí máu ghi nhận PaO<sub>2</sub> 40-59 mmHg ở 87,5% và HCO<sub>3</sub><sup>-</sup> 12-17 mEq/L ở 87,5%. Đa số trẻ (87,5%) đã được đặt nội khí quản và bóp bóng khi nhập viện; tất cả đều hồi phục xuất viện (100%), không có chuyển tuyến hay tử vong.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Bệnh màng trong chủ yếu gặp ở trẻ sinh non/nhẹ cân và con so, biểu hiện giảm oxy máu nặng với X quang độ II; tuân thủ phác đồ hiện hành cho kết quả ngắn hạn rất tốt. Cần nhấn mạnh phát hiện sớm và áp dụng gói chăm sóc chuẩn hóa trong quản lý bệnh màng trong.</p>Trần Thị Tuyết PhươngPhan Thanh TàiPhạm Thị Tuyết NhiHà Thị Hồng ÂnNguyễn Thị Ngọc Nga
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4300ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG BỆNH TĂNG SINH LYMPHO TUYẾN LỆ TẠI BỆNH VIỆN MẮT TRUNG ƯƠNG
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4301
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh tăng sinh lympho tuyến lệ tại Bệnh viện Mắt Trung ương.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 36 bệnh nhân (50 mắt) được chẩn đoán tăng sinh lympho tuyến lệ dựa trên giải phẫu bệnh, khám và điều trị tại Khoa Tạo hình thẩm mỹ, Bệnh viện Mắt Trung ương từ tháng 5-11 năm 2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 58,8 ± 18 tuổi, chủ yếu ở nhóm 61-80 tuổi; nam chiếm 55,6%. Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là sờ thấy khối u (80,6%), tiếp theo là sưng nề mi (44,4%) và lồi mắt (22,2%). Dấu hiệu thực thể nổi bật là khối rõ ở góc trên-ngoài (88,9%), kèm sưng mi (52,8%) và hạn chế vận nhãn (16,7%). Trên cắt lớp vi tính, đa số khối có kích thước 2-4 cm (70%), nằm vùng trên-thái dương (98-100%), bờ đều (76%), ranh giới rõ (72%), thường lõm nhẹ theo nhãn cầu (84%) và không gây tổn thương xương (100%). Về mô bệnh học, 69,4% trường hợp là u lympho và 30,6% là tăng sản lympho.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Tăng sinh lympho tuyến lệ thường gặp ở người lớn tuổi, biểu hiện chủ yếu bằng khối vùng góc trên-ngoài hốc mắt. Hình ảnh cắt lớp vi tính điển hình với khối đồng nhất, bờ đều, không phá xương giúp định hướng chẩn đoán, nhưng mô bệnh học vẫn là tiêu chuẩn vàng. Tỷ lệ u lympho chiếm ưu thế, cho thấy tầm quan trọng của chẩn đoán sớm và đánh giá toàn diện để định hướng điều trị.</p>Hoàng CươngNguyễn Quốc AnhĐinh Thị Thanh Huyền
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4301ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ LƠ XÊ MI KINH DÒNG TỦY CÓ BẤT THƯỜNG NHIỄM SẮC THỂ PHỐI HỢP BẰNG IMATINIB TẠI TRUNG TÂM HUYẾT HỌC-TRUYỀN MÁU, BỆNH VIỆN BẠCH MAI GIAI ĐOẠN 2012-2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4337
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả điều trị của bệnh nhân lơ xê mi kinh dòng tuỷ (CML) có bất thường nhiễm sắc thể phối hợp (ACAs) bằng imatinib từ năm 2012 đến tháng 3 năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng</strong>: Các bệnh nhân CML giai đoạn mạn tính được điều trị bằng imatinib tại Trung tâm Huyết học- Truyền máu, Bệnh viện Bạch Mai từ 2012 đến 3/2025.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu thuần tập hồi cứu.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong 35 bệnh nhân lơ xê mi kinh dòng tuỷ có ACAs được điều trị bằng imatinib, các ACAs phổ biến nhất bao gồm biến thể Ph (34,2%), đột biến nhiễm sắc thể (NST) phức tạp (28,6%), trisomy 8 (11,4%) và hai NST Ph (11,4%). Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn về huyết học sau 3 tháng là 91,4%. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn về di truyền tế bào sau 12 tháng điều trị là 42,9%. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn về di truyền phân tử là 48,6%. Tỷ lệ còn sống đến thời điểm hiện tại là 51,4%. Tỷ lệ sống trên 5 năm là 47,1%.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Bệnh nhân CML có ACAs được điều trị imatinib có tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn về huyết học sau 3 tháng là 91,4%. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn về di truyền tế bào sau 12 tháng điều trị là 42,9%. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn về di truyền phân tử là 48,6%. Tỷ lệ sống trên 5 năm là 47,1%.</p>Phạm Thị HằngVũ Minh PhươngNguyễn Thị Lan HươngTrần Phương VinhNguyễn Thanh Bình MinhPhùng Quốc ĐiệpKiều Thị Vân Oanh
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4337ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ NỘI SOI ĐƯỜNG MẬT QUA ĐƯỜNG HẦM KEHR Ở BỆNH NHÂN CÒN SỎI SAU PHẪU THUẬT LẤY SỎI ĐƯỜNG MẬT
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4338
<p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hình ảnh nội soi đường mật qua đường hầm Kehr ở bệnh nhân còn sỏi sau phẫu thuật lấy sỏi đường mật tại Bệnh viện Bình Dân.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 207 bệnh nhân được nội soi đường mật qua ống Kehr tại Khoa Gan Mật, Bệnh viện Bình Dân từ 01/2022 đến 04/2025. Thu thập tuổi, giới, bệnh nền, phân loại ASA; kết quả siêu âm và X-quang đường mật qua Kehr trước nội soi; và đặc điểm khi nội soi (mức độ trưởng thành đường hầm, vị trí và gánh nặng sỏi, tình trạng tắc nghẽn, viêm/dễ chảy máu ống mật). Phân tích mô tả.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tuổi trung bình 59,46 ± 13,85 (18–95); nữ 64,3% (nữ/nam ≈ 1,8:1). Không có bệnh nền chiếm 76,3%; đa số ASA II (84,1%) và ASA III (15,0%). Siêu âm ghi nhận sỏi trong gan 60,9%, ngoài gan/ống mật chủ 12,1% và phối hợp 27,0%. Khi nội soi, đường hầm Kehr ổn định 96,7%. Sỏi gây tắc nghẽn gặp ở 20,3%. Về phân bố sỏi quan sát được khi nội soi: trong gan 47,4%, ngoài gan 33,8%, phối hợp 18,8%; gánh nặng sỏi <5 viên 64,3% và sỏi cây 7,2%. Ống mật viêm, dễ chảy máu ghi nhận 10,1%.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Bệnh nhân còn sỏi sau mổ được nội soi qua đường hầm Kehr chủ yếu là người lớn tuổi, nữ, ASA II–III; sỏi trong gan chiếm ưu thế. Đường hầm Kehr đa số trưởng thành tốt, thuận lợi cho tiếp cận nội soi.</p>Huỳnh Thanh LongNguyễn Tạ QuyếtLê Nguyên KhôiLê Đức Anh Tuấn
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4338ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CÓ NẾP NHĂN NGANG TRÁN TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4339
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan của đối tượng nghiên cứu có nếp nhăn ngang trán tại Bệnh viện Da liễu trung ương.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Mô tả cắt ngang, tiến cứu trên 223 đối tượng nghiên cứu đến khám tại Bệnh viện Da liễu trung ương có nếp nhăn ngang trán từ tháng 8 năm 2024 đến tháng 8 năm 2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình là 34,5 ± 8,6, nữ chiếm 76,2%. Nhóm tuổi 30–<50 chiếm tỉ lệ cao nhất (60,1%) về xuất hiện nếp nhăn. Về điều trị, bôi kem dưỡng chiếm 56,5%, tiếp đến không can thiệp (18,8%) và các phương pháp xâm lấn ít phổ biến. Kiểu hình nếp nhăn type I đầy đủ chiếm ưu thế (88,3%) và vị trí nếp nhăn toàn bộ chiều rộng trán phổ biến nhất (88,6%). Nếp nhăn động chủ yếu ở mức trung bình, nếp nhăn tĩnh chủ yếu nhẹ hoặc tối thiểu. Điểm FLGS nếp nhăn cả động và tĩnh tăng theo tần suất thói quen nhăn trán. Mức độ nếp nhăn tĩnh thấp hơn ở những người sử dụng kem chống nắng và tăng theo tuổi, với nhóm ≥50 tuổi có điểm FLGS cao hơn các nhóm tuổi nhỏ hơn.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Nếp nhăn ngang trán xuất hiện chủ yếu ở nhóm tuổi 30–<50. Kiểu hình type I và vị trí nếp nhăn toàn bộ chiều rộng trán chiếm ưu thế. Mức độ nếp nhăn động liên quan với thói quen nhăn trán, trong khi mức độ nếp nhăn tĩnh liên quan với thói quen nhăn trán, thói quen sử dụng kem chống nắng và tuổi.</p>Nguyễn Thị Thu PhươngNguyễn Văn ThườngTrần Thái SơnNguyễn Quang MinhVũ Thị Hồng LuyếnTrương Thị Huyền TrangLê Thị XuânThái Thị Diệu VânLê Văn TrungVũ Thái Hà
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4339KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT BỆNH HẸP VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4341
<p><strong>1.Mục tiêu: </strong>Đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của và kết quả sớm sau phẫu thuật điều trị bệnh hẹp van động mạch chủ (HVĐMC) tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội giai đoạn 2021-2024</p> <p><strong>2.Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả đoàn hệ hồi cứu. Bệnh nhân được chẩn đoán HVĐMC và được phẫu thuật tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 01/2021 đến tháng 12/2024.</p> <p><strong>3.Kết quả: </strong>Nghiên cứu gồm 40 bệnh nhân với tuổi trung bình là 63,7±8,2, nam giới chiếm 67,5%. Triệu chứng chủ yếu là tức ngực (65%). NYHA II trước phẫu thuật chiếm 85%. 100% bệnh nhân có tiếng thổi ở ổ van động mạch chủ (VĐMC). Siêu âm tim trước mổ cho thấy thất trái tăng kích thước với LVM(g) 240,2 ± 75,2, đa số có chức năng thất trái trong giới hạn chiếm 80,0%. Các bệnh nhân đều có tổn thương khẹp khít VĐMC và giãn phồng động mạch chủ (ĐMC) lên với chênh áp trung bình qua VĐMC là 62,5±16,1 và đường kính ĐMC lên 40,5 ± 5,2 mm. Dạng bất thường VĐMC hai cánh van với 35 bệnh nhân chiếm (87,5%). 17,5% kèm theo thay đoạn ĐMC lên, 40,0% được bọc ĐMC lên, 7,5% bệnh nhân sửa van hai lá đặt vòng van. Sau mổ 95% bệnh nhân ra viện với kết quả tốt, 1 bệnh nhân tử vong do lóc ĐMC Stanford A trong mổ; 1 trường hợp mổ lại tạo hình xương ức do toác xương ức.</p> <p><strong>4.Kết luận:</strong> Bệnh HVĐMC thường gặp ở người già với triệu chứng đa dạng của tổn thương tim, ĐMC lên và của bệnh nền. Phẫu thuật chủ yếu là thay VĐMC và xử lý ĐMC lên với tỷ lệ thành công cao.</p>Nguyễn Quang HuyVũ Ngọc TúLê Văn HùngĐặng Văn Khánh
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4341SO SÁNH HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU TRONG CHUYỂN DẠ CỦA CÁC PHÁC ĐỒ CÀI ĐẶT BƠM TIÊM ĐIỆN KHI GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG DO SẢN PHỤ TỰ ĐIỀU KHIỂN (PCEA)
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4342
<p><strong>Mục tiêu:</strong> So sánh hiệu quả giảm đau trong chuyển dạ của ba phác đồ cài đặt bơm tiêm điện khi gây tê ngoài màng cứng do sản phụ tự điều khiển (PCEA) .</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Phương pháp mô tả cắt ngang, thực hiện từ 10/2024- 9/2025, tại Bệnh viện Phụ sản Thanh Hóa. 90 sản phụ con so được chia làm ba nhóm: Nhóm A: Tiêm bolus 3ml hỗn hợp thuốc giảm đau, thời gian khóa 6 phút. Nhóm B Tiêm bolus 6ml hỗn hợp thuốc giảm đau, thời gian khóa 12 phút. Nhóm C: Tiêm bolus 9ml hỗn hợp thuốc giảm đau, thời gian khóa 18 phút. Cả 3 nhóm có liều nền là 3ml/h, liều tối đa 80ml/ 4h. Thuốc tê sử dụng là: levobupivacain 0,1% và fentanyl 2µg/ml.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Thời gian khởi phác tác dụng giảm đau ở nhóm A chậm hơn nhóm B và C. Tỉ lệ sử dụng sử dụng liều cứu giảm đau của nhóm C thấp nhất. Điểm đau (VAS) duy trì trong suốt quá trình giảm đau trong đẻ đều nhỏ hơn 4 ở các giai đoạn chuyển dạ ở cả 3 nhóm. Nhóm C có tỷ lệ ức chế vận động cao hơn hai nhóm còn lại. 100% sản phụ ở cả 3 nhóm đều hài lòng và rất hài lòng về giảm đau trong quá trình chuyển dạ.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Phác đồ cài đặt bơm tiêm điện trong PCEA (levobupivacain 0,1% và fentanyl 2µg/ml), có hiệu quả giảm đau tốt và không ảnh hưởng vận động của sản phụ là: Tiêm bolus 6ml mỗi lần sản phụ bấm nút điều khiển, thời gian khóa 12 phút, liều nền là 3ml/h và nhóm tiêm bolus 9ml thời gian khóa 18 phút liều nền 3ml/h.</p>Lê Kim HưởngNguyễn Đức LamTrần Văn Cường
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4342KẾT QUẢ CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT U PHÌ ĐẠI TUYẾN TIỀN LIỆT LÀNH TÍNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108 NĂM 2024
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4343
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu nhằm mô tả kết quả chăm sóc điều dưỡng đối với người bệnh sau phẫu thuật nội soi u phì đại tuyến tiền liệt lành tính (UPĐTTL) và các yếu tố liên quan đến chất lượng chăm sóc.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 120 người bệnh nam được chẩn đoán UPĐTTL và phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ 04/2024 đến 09/2024. Các biến số bao gồm đặc điểm nhân khẩu học, lâm sàng – cận lâm sàng, hoạt động chăm sóc, kết quả điều trị và mức độ hài lòng của người bệnh. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của người bệnh là 72,9 ± 7,7 (50–94 tuổi). Sau mổ, mức độ đau giảm rõ rệt (VAS từ 5,92 xuống 3,17), chức năng vận động phục hồi hoàn toàn trước khi xuất viện. Tỷ lệ người bệnh đạt kết quả chăm sóc tốt là 90%, mức độ hài lòng đạt 97,5%. Trình độ học vấn, nghề nghiệp và kinh tế gia đình có liên quan đến kết quả chăm sóc (p<0,05). Biến chứng sau mổ làm giảm rõ rệt kết quả chăm sóc (p=0,01).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Việc chăm sóc điều dưỡng cho bệnh nhân phẫu thuật nội soi UPĐTLT được thực hiện tốt, với tỉ lệ biến chứng thấp và mức độ hài lòng của người bệnh cao.</p>Vũ Trí NhânĐoàn Thị ChiNguyễn Thị YếnTrần Thị BiênNguyễn Thị Thu HàĐoàn Tùng AnhĐỗ Ngọc ThểNguyễn Công Khẩn
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4343VAI TRÒ CỦA SIÊU ÂM TIM CẢN ÂM TRONG CHẤN ĐOÁN LỖ BẦU DỤC (PFO) Ở NGƯỜI BỆNH NHỒI MÁU NÃO
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4344
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá vai trò của siêu âm tim cản âm qua thành ngực với chất cản âm tự tạo so với siêu âm tim qua thực quản trong chẩn đoán shunt phải-trái do tồn tại lỗ bầu dục (PFO) còn mở.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 51 người bệnh nhập viện vì nhồi máu não. Tất cả bệnh nhân đều được thực hiện siêu âm tim cản âm qua thành ngực (cTTE) và siêu âm tim cản âm qua thực quản (cTEE) với chất cản âm tự tạo.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: PFO được phát hiện ở 17 người bệnh (33,3%) trên cTTE so với 18 trường hợp (35%) phát hiện trên cTEE (χ2= 0,5; p≈1) sự khác biệt giữa 2 phương pháp là không có ý nghĩa thống kê. So với cTEE thì cTTE đã phát hiện được 94,4% trường hợp có PFO cho thấy sự phù hợp cao giữa hai phương pháp trong việc nhận diện PFO (Kappa=0.9). Hơn nữa, cTTE có ưu thế hơn trong việc đánh giá mức độ shunt phải-trái qua PFO đặc biệt là shunt mức độ lớn khi so sánh với cTEE (Z=-2,053, P = 0,04). Không có phản ứng bất lợi nào được phát hiện trong quá trình thực hiện cTEE và cTTE với chất cản âm tự tạo.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> cTTE với chất cản âm tự tạo là phương pháp đơn giản, không xâm lấn, chi phí thấp, phù hợp để phát hiện và chẩn đoán PFO.</p>Vũ Mạnh ThắngNguyễn Minh HùngMai Duy TônNguyễn Thị Thu HoàiGiáp Thị Minh NguyệtLưu Thị Bích ĐàoPhạm Mạnh Hùng
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4344ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG NHIỄM KHUẨN CỦA MÔ XƯƠNG SỌ BẢO QUẢN TẠI NGÂN HÀNG MÔ BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4345
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả tình hình nhiễm khuẩn và đặc điểm vi khuẩn phân lập được trên mô xương sọ bảo quản.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả, hồi cứu 1162 mẫu mô xương sọ được lựa chọn ngẫu nhiên từ các mô được bảo quản tại ngân hàng mô Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.</p> <p><strong>Kết quả</strong><strong>: </strong>1162 bệnh nhân bao gồm 898 nam (77,28%), 264 nữ (22,72%); 1067 trường hợp (91,82%) có nguyên nhân mở hộp sọ do chấn thương sọ não. Tỉ lệ nhiễm khuẩn giai đoạn trước chiếu xạ là 4,56%; sau chiếu xạ là 0,17%. Các chủng vi khuẩn thường gặp là <em>Staphylococcus aureus</em> (15,52%), <em>Staphylococcus epidermidis</em> (15,52%) và <em>Pseudomonas aeruginosa</em> (13,79%). Mảnh xương nhiều cân cơ, máu tụ, vỡ giập có tỉ lệ nhiễm khuẩn (7,65%) cao hơn nhóm có mảnh xương sạch (4,38%). Tỉ lệ nhiễm khuẩn theo thời gian vận chuyển trong ngày (≤ 24 giờ) là 1,88%; từ 1-2 ngày là 4,72%, từ 3-7 ngày là 7,65% và trên 7 ngày là 6,52%. Mẫu ngoại viện có tỉ lệ nhiễm khuẩn (9,38%) cao hơn mẫu nội viện (0,48%) (p < 0,01).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Tỉ lệ nhiễm khuẩn trước chiếu xạ là 4,56%, tỉ lệ nhiễm khuẩn sau chiếu xạ 0,17%. <em>S.aureus</em>, <em>S.epidermidis</em> và <em>P.aeruginosa</em> là các chủng vi khuẩn thường gặp. Quá trình thu nhận, xử lý và bảo quản mô xương sọ có nhiều yếu tố như nhiều máu tụ, cân cơ; thời gian chờ xử lý; nơi thu hồi từ bệnh viện ngoài làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn.</p>Nguyễn Văn ChỉnhTrần Thị HằngĐỗ Thanh HòaDương Công NguyênNguyễn Thị ĐiểmHà Văn PhúTrần Thị Thanh HuyềnNguyễn Thu HạnhHoàng Minh Anh
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4345ĐẶC ĐIỂM CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA TRÀN MÁU – TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI DO CHẤN THƯƠNG NGỰC KÍN TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC GIAI ĐOẠN 2022-2023
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4346
<p><strong>1.Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm chẩn đoán và điều trị ngoại khoa bệnh nhân tràn máu - tràn khí màng phổi do chấn thương ngực kín tại Bệnh viện hữu nghị Việt Đức trong giai đoạn 2022-2023.</p> <p>2.<strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả hồi cứu. Tất cả các bệnh nhân được xác định các chỉ tiêu nghiên cứu theo một mẫu thống nhất, chú trọng đến các tiêu chí về triệu chứng lâm sàng, X-quang lồng ngực, phương pháp phẫu thuật và kết quả ban đầu.</p> <p>3.<strong>Kết quả: </strong>Phẫu thuật là phương pháp điều trị cơ bản chấn thương ngực kín. Phẫu thuật chủ yếu là dẫn lưu màng phổi (87,6%), chỉ có 12,3% phải mở ngực. Tuổi trung bình: 48,8±14,8; nam giới: 74,9%. Nguyên nhân chủ yếu: tai nạn giao thông (53,2%). Thể bệnh chính: tràn máu - tràn khí màng phổi (75,3%), Tổn thương gãy xương sườn gặp ở hầu hết bệnh nhân (93,5%). Các tổn thương đi kèm gồm chấn thương sọ não (28,1%), chấn thương bụng kín (16,3%), chấn thương xương khớp (35%). Điều trị ngoại khoa: Dẫn lưu màng phổi chiếm 87,6% và mở ngực chiếm 12,4%. Kết quả: Tốt (79,8%), thời gian đặt dẫn lưu trung bình là 5,2± 2,4 ngày.</p> <p>4.<strong>Kết luận: </strong>Điều trị ngoại khoa bệnh nhân tràn máu – tràn khí màng phổi do chấn thương kín tại Bệnh viện hữu nghị Việt Đức cho kết quả sớm tốt và tỉ lệ biến chứng thấp.</p>Văn Đình ĐạtDương Đức HùngPhạm Hữu Lư
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4346ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP SIX – SIGMA TRONG KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG XÉT NGHIỆM TỔNG PHÂN TÍCH TẾ BÀO MÁU NGOẠI VI TRÊN MÁY DXH 690T TẠI KHOA XÉT NGHIỆM – BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC SMART CITY
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4347
<p><strong> Mục tiêu</strong>: Đánh giá hiệu năng phân tích xét nghiệm của một số chỉ số tế bào máu ngoại vi trên hệ thống máy DxH 690T bằng Phương pháp Six Sigma.</p> <p><strong>Phương</strong><strong> pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang, các chỉ số Số lượng bạch cầu (WBC), Số lượng hồng cầu (RBC), Lượng Huyết sắc tố (HGB), Số lượng tiểu cầu (PLT) từ tháng 10/2024 đến tháng 03/2025 tại Khoa xét nghiệm – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Smart City.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Dựa vào giá trị Sigma phân loại được chất lượng của các chỉ số như sau: có 9 chỉ số có chất lượng đạt mức Xuất sắc chiếm 75%. Có 1 chỉ số có chất lượng đạt mức Tốt chiếm 8 và 2 chỉ số có chất lượng đạt mức Chấp nhận được đều chiếm 16.7%.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Phương pháp Six Sigma là công cụ hữu ích trong quản lý chất lượng xét nghiệm, giúp phòng xét nghiệm đánh giá hiệu năng và nâng cao chất lượng xét nghiệm.</p>Nguyễn Thị Kim HuệNguyễn Thị Hoài PhươngNguyễn Thị Hồng AnhHoàng Hương HuyềnNguyễn Từ TrungNguyễn Thị HuyTrần Thanh Lâm
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4347TỈ LỆ HẠ THÂN NHIỆT Ở NGƯỜI BỆNH PHẪU THUẬT CHƯƠNG TRÌNH SAU GÂY TÊ TỦY SỐNG TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN 115
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4348
<p><strong>Mục tiêu:</strong><strong> </strong>Xác định tỉ lệ hạ thân nhiệt và các yếu tố liên quan ở người bệnh phẫu thuật chương trình sau gây tê tủy sống.</p> <p><strong>Đối</strong><strong> tượng và </strong><strong>phương pháp:</strong><em> </em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 83 người bệnh phẫu thuật chương trình tại Bệnh viện Nhân dân 115, từ tháng 11/2024 đến tháng 5/2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong><strong> </strong>Tỉ lệ hạ thân nhiệt ở người bệnh phẫu thuật chương trình sau gây tê tủy sống tại Bệnh viện Nhân dân 115 là 47%. Các yếu tố liên quan đến hạ thân nhiệt ở người bệnh phẫu thuật chương trình sau gây tê tủy sống tại Bệnh viện Nhân dân 115: giới tính nữ (p < 0,001); tình trạng ASA II trở lên (p = 0,003); lớn tuổi với tuổi trung bình nhóm hạ thân nhiệt là 65,9 ± 13,5 tuổi (p < 0,001); thân nhiệt trước khi vào phòng phẫu thuật thấp (p < 0,001); thời gian phẫu thuật từ 60 phút trở lên (p = 0,025); loại phẫu thuật chi dưới và phẫu thuật tiết niệu (p = 0,006).</p> <p><strong>Kết luận:</strong><strong> </strong>Nghiên cứu này ghi nhận tỉ lệ hạ thân nhiệt ở người bệnh phẫu thuật chương trình sau gây tê tủy sống là khá cao, do đó thân nhiệt cần được theo dõi thường quy cả trên người bệnh tỉnh, cũng như tăng cường đào tạo cập nhật kiến thức y khoa liên tục cho nhân viên gây mê hồi sức về tầm quan trọng của theo dõi thân nhiệt trên người bệnh gây tê vùng.</p>Phan Hoàng TrọngTrần Ngọc LinhNguyễn Thị Mỹ LinhTrần Thanh Tùng
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4348ỨNG DỤNG LIỆU PHÁP HÚT ÁP LỰC ÂM TRONG ĐIỀU TRỊ SUNG HUYẾT VẠT DA CÓ CUỐNG VÙNG CHI DƯỚI: BÁO CÁO LOẠT CA
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4349
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Báo cáo loạt ca bệnh sử dụng liệu pháp hút áp lực âm trong điều trị sung huyết vạt da có cuống và tổng quan y văn về hiệu quả của phương pháp này.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Báo cáo hàng loạt ca.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> 5 bệnh nhân (3 nam, 2 nữ; tuổi trung bình 37, dao động 22-60 tuổi) có khuyết hổng chi dưới do chấn thương (60%), bỏng (20%) hoặc loét mạn tính do đái tháo đường (20%), được che phủ bằng vạt sural đảo ngược (60%), vạt xuyên động mạch cẳng chân (20%) hoặc vạt propeller perforator (20%). Tất cả xuất hiện sung huyết trong vòng 36-72 giờ sau mổ (trung bình 50 giờ) và được điều trị bằng liệu pháp hút áp lực âm với áp lực -100 đến -125 mmHg, duy trì 5-7 ngày (trung bình 6,2 ngày). Kết quả 4/5 vạt (80%) sống hoàn toàn, 1 vạt (20%) hoại tử rìa nhỏ (< 5% diện tích) được xử trí ghép da bổ sung, không có trường hợp nào hoại tử toàn bộ. Tình trạng sung huyết cải thiện rõ sau 48-72 giờ đặt liệu pháp hút áp lực âm ở 100% bệnh nhân.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Liệu pháp hút áp lực âm là một biện pháp cứu vạt hiệu quả, ít xâm lấn, khả thi trong điều kiện bệnh viện không có vi phẫu. Cần thêm các nghiên cứu đối chứng ngẫu nhiên để xác định chỉ định, thời điểm và thông số tối ưu.</p>Nguyễn Tấn Bảo ÂnNguyễn Thái Thùy Dương
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4349KHẢO SÁT CÁC CHỈ SỐ BẠCH CẦU Ở BỆNH NHÂN TRẦM CẢM ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4350
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Khảo sát đặc điểm các chỉ số bạch cầu ở bệnh nhân trầm cảm.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 107 người bệnh giai đoạn trầm cảm điều trị nội trú tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 3-10 năm 2025.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Phần lớn người bệnh là nữ giới (76,64%), nhóm tuổi phổ biến nhất là trên 60 (32,71%). Đa số nhập viện trong tình trạng trầm cảm nặng (89,72%) và có tỷ lệ cao về ý tưởng/hành vi tự sát (61,68%) cũng như triệu chứng loạn thần (28,04%); số còn lại là trầm cảm vừa (10,28%). Chỉ số bạch cầu chung: giá trị trung bình của tổng bạch cầu (7,81 ± 2,40 G/L) và các dòng bạch cầu đều nằm trong giới hạn tham chiếu bình thường. Nhóm người bệnh có triệu chứng loạn thần có số lượng bạch cầu đa nhân trung tính cao hơn đáng kể so với nhóm không có loạn thần; sự gia tăng rõ rệt nhất ở nhóm người bệnh có biểu hiện phức tạp (kết hợp cả hoang tưởng và ảo giác), với mức tăng cao ở cả tổng lượng bạch cầu, bạch cầu đa nhân trung tính và tỷ lệ neutrophil/lymphocyte.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Có sự gia tăng bạch cầu ở người bệnh giai đoạn trầm cảm với triệu chứng loạn thần.</p>Nguyễn Hoàng YếnPhạm Thị Nguyệt NgaTrịnh Thị Bích HuyềnNguyễn Thị Minh HươngNguyễn Văn TuấnLê Mạnh Thường
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4350ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ MÔ HÌNH GÃY KHUNG CHẬU TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC HÓC MÔN TỪ THÁNG 1/2023 ĐẾN THÁNG 6/2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4351
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả đặc điểm dịch tễ học, mô hình bệnh lý gãy khung chậu và phân tích nhu cầu can thiệp phẫu thuật điều trị gãy khung chậu mất vững tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Hóc Môn giai đoạn từ 1/2023-6/2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu dữ liệu hồ sơ bệnh án. Các trường hợp được phân loại theo Tile và Young-Burgess. Dữ liệu thu thập gồm: tuổi, giới tính, nguyên nhân, cơ chế chấn thương, mức độ mất vững và kết quả điều trị ban đầu.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong giai đoạn nghiên cứu, có 96 trường hợp gãy khung chậu được ghi nhận, trong đó nam giới chiếm 34,4% và nữ giới chiếm 65,6%. Nhóm tuổi trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (52,1%). Gãy trật khớp cùng chậu là dạng thường gặp nhất (35,4%), kế đến là gãy xương mu (29,1%), và gãy ngành chậu hoặc thân xương chậu (20,8%). Theo phân loại Young-Burgess, chấn thương do nén ép bên là cơ chế thường gặp nhất. Các dạng gãy ổ cối, gãy xương cùng và gãy phức tạp vùng chậu ít gặp hơn. Số lượng ca gãy khung chậu có xu hướng gia tăng qua từng năm, từ 19 ca năm 2023 tăng lên 49 ca năm 2024 và 28 ca trong 6 tháng đầu năm 2025. Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán gãy khung chậu đều được chuyển tuyến trên để tiếp tục điều trị hoặc bệnh nhân xin xuất viện.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Gãy khung chậu thường gặp ở nữ giới trung niên và người cao tuổi và cho thấy xu hướng gia tăng trong suốt thời gian nghiên cứu. Phần lớn các trường hợp liên quan đến dạng tổn thương không ổn định, đòi hỏi phải điều trị chuyên khoa. Do dữ liệu nghiên cứu chỉ phản ánh các bệnh nhân ban đầu đến khám tại bệnh viện khu vực tuyến huyện, nên tỷ lệ mắc gãy xương chậu thực tế ở khu vực Hóc Môn có thể cao hơn. Những phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường năng lực chẩn đoán, quản lý ban đầu và đào tạo phẫu thuật điều trị gãy xương chậu tại các bệnh viện đa khoa tuyến huyện.</p>Cao ThỉĐỗ Tiến PhátTrần Bình Dương
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4351KHẢO SÁT MỐI LIÊN QUAN GIỮA THỪA CÂN-BÉO PHÌ VÀ KHÁNG INSULIN Ở BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG MẠCH VÀNH CẤP
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4352
<p><strong>M</strong><strong>ục tiêu</strong><strong>:</strong> Nghiên cứu này nhằm đánh giá mối liên quan giữa thừa cân-béo phì và kháng insulin ở bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp không đái tháo đường.</p> <p><strong>P</strong><strong>hương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 126 bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp không đái tháo đường điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 6/2024 đến tháng 4/2025. Kháng insulin được đánh giá bằng chỉ số HOMA2-IR với ngưỡng ≥ 1,35. Tình trạng thừa cân-béo phì được phân loại dựa trên BMI, với điểm cắt ≥ 23 kg/m² theo khuyến cáo cho quần thể châu Á. Các yếu tố lâm sàng và sinh hóa được phân tích nhằm đánh giá mối liên quan với chỉ số HOMA2-IR.</p> <p><strong>Kết quả</strong><strong>:</strong> Qua khảo sát 126 bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp không đái tháo đường, tỷ lệ thừa cân-béo phì (BMI ≥ 23 kg/m²) là 44,4%. Nhóm này có HOMA2-IR và insulin cao hơn, HOMA2-%S thấp hơn, kèm rối loạn lipid máu rõ rệt; BMI tương quan thuận với HOMA2-IR (r = 0,36; p < 0,001) và tương quan nghịch với HOMA2-%S (r = -0,34; p < 0,001). Trong hồi quy đa biến, BMI ≥ 23 kg/m² vẫn liên quan độc lập với tăng HOMA2-IR (β = 0,79; p = 0,012).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Ở bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp không đái tháo đường, tình trạng thừa cân-béo phì (BMI ≥ 23 kg/m²) có mối liên quan thuận và độc lập với kháng insulin được đánh giá bằng mô hình HOMA2-IR. Kết quả này nhấn mạnh vai trò của thừa cân-béo phì trong rối loạn chuyển hóa sớm và gợi ý cần chú trọng đánh giá, kiểm soát cân nặng nhằm góp phần cải thiện tiên lượng ở nhóm bệnh nhân này.</p>Nguyễn Ngọc Minh ThưBùi Thế DũngLâm Vĩnh NiênNguyễn Chí Thanh
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4352HIỆU QUẢ CAN THIỆP LIỆU PHÁP KÍCH HOẠT HÀNH VI CHO NHÓM NGƯỜI BỆNH TRẦM CẢM TẠI TỈNH THANH HÓA
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4353
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá hiệu quả của liệu pháp kích hoạt hành vi nhóm tại cộng đồng cho người bệnh trầm cảm tại tỉnh Thanh Hóa.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu can thiệp có đối chứng trên 242 đối tượng từ 18-65 tuổi có điểm PHQ-9 ≥ 10 tại 6 xã thuộc huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa từ tháng 8/2024-1/2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Sau 8 tuần can thiệp bằng liệu pháp kích hoạt hành vi nhóm, nhóm can thiệp ghi nhận cải thiện đáng kể ở các chỉ số trầm cảm (PHQ-9), căng thẳng tâm lý (BSRS-5), mức độ kích hoạt hành vi (BADS-SF) và khả năng thích ứng phục hồi (BRCS), trong khi nhóm chứng hầu như không thay đổi. Cụ thể, điểm PHQ-9 giảm từ 15,86 ± 3,68 xuống 7,00 ± 3,94 (p < 0,001) và BSRS-5 giảm từ 13,77 ± 3,28 xuống 6,56 ± 3,94 (p < 0,001) ở nhóm can thiệp. Chỉ số BADS-SF tăng từ 24,22 ± 7,91 lên 34,87 ± 6,92 (p < 0,001) và BRCS tăng từ 12,62 ± 4,03 lên 15,81 ± 2,54 (p < 0,001), trong khi nhóm chứng có xu hướng giảm hoặc thay đổi không đáng kể.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kết quả nghiên cứu đã khẳng định hiệu quả của liệu pháp kích hoạt hành vi nhóm trong giảm triệu chứng trầm cảm, cải thiện hành vi chủ động và khả năng thích ứng phục hồi ở người bệnh trầm cảm.</p>Phạm Thị Thu HườngNguyễn Thanh TâmLê Bật TânChu Lê Hương GiangTrịnh Văn HồngTrần Thị LýLê Thị PhươngNguyễn Thị PhươngNguyễn Quang HưngNguyễn Thị Lan AnhTrương Quang TrungNguyễn Thị SơnNguyễn Thành ChungNguyễn Thúy AnhLê Châu Anh
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4353STRESS VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH VIÊM GAN B ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4354
<p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả tỷ lệ, mức độ stress và một số yếu tố liên quan với stress ở ở người bệnh viêm gan virus B tại Bệnh Viện Đại Học Y Hà Nội năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang bao gồm 121 người bệnh viêm gan B đang điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội . Đánh giá tình trạng stress bằng thang đo PSS-10.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ stress ở người bệnh viêm gan B là cao (73,6%), trong đó chủ yếu ở mức độ nhẹ và không ghi nhận trường hợp stress nặng. Stress liên quan đáng kể đến tình trạng việc làm và thời gian mắc bệnh, với tỷ lệ stress cao hơn ở nhóm không có việc làm và nhóm mới chẩn đoán ≤ 6 tháng.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Tỷ lệ stress ở người bệnh viêm gan B khá cao, nhân viên y tế cần tầm soát và hỗ trợ tâm lý nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và hiệu quả điều trị.</p>Lê Thu HàNguyễn Thành LongPhạm Thị Nguyệt Nga
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4354THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUY TRÌNH LẤY MÁU TĨNH MẠCH CỦA KỸ THUẬT VIÊN TẠI KHOA XÉT NGHIỆM, BỆNH VIỆN QUẬN 1, TP. HỒ CHÍ MINH NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4355
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch của kỹ thuật viên tại Khoa Xét nghiệm, Bệnh viện Quận 1, TP. Hồ Chí Minh năm 2025.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang, định lượng. Quan sát 384 lượt thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch của kỹ thuật viên tại Khoa Xét nghiệm. Bảng kiểm được xây dựng dựa trên các văn bản quy định hiện hành và quy trình lấy máu tĩnh mạch của Bệnh viện Quận 1. Số liệu được tổng hợp theo tỷ lệ (%) thực hiện đúng, chưa đúng và không thực hiện.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Các thao tác kỹ thuật cốt lõi được thực hiện với tỷ lệ cao, đa số trên 95%. Cụ thể, buộc garo, xác định tĩnh mạch và sát khuẩn vị trí chọc kim đạt từ 98% trở lên; sát khuẩn đủ đường kính và đủ số lần đạt 95,1%. Một số nội dung còn hạn chế gồm rửa tay nhanh trước khi lấy máu đạt 47,1% và không có kỹ thuật viên nào thực hiện đậy kim bằng phương pháp xúc muỗng (0/384 lượt). Về giao tiếp và hướng dẫn người bệnh, tỷ lệ giải thích mục đích lấy máu đạt 50,5% và hướng dẫn sau thủ thuật đạt 58,6%, thấp hơn so với nhóm thao tác kỹ thuật. Không có lượt quan sát nào thực hiện đầy đủ tất cả các bước của quy trình (0/384).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Quy trình lấy máu tĩnh mạch tại Bệnh viện Quận 1 được thực hiện ổn định ở các thao tác kỹ thuật cốt lõi; tuy nhiên, cần tăng cường kiểm soát nhiễm khuẩn và kỹ năng giao tiếp, hướng dẫn người bệnh.</p>Nguyễn Ngọc Minh ThưNguyễn Nguyệt CầuNguyễn Quỳnh Anh
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4355TĂNG CÂN THAI KỲ, BMI TRƯỚC MANG THAI VÀ NGUY CƠ SINH CON ≥ 4 KG: TỔNG QUAN TƯỜNG THUẬT
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4356
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Tổng hợp bằng chứng giai đoạn 2010–2025 về mối liên quan giữa chỉ số khối cơ thể trước mang thai (BMI) và tăng cân thai kỳ (gestational weight gain – GWG) với nguy cơ thai to (macrosomia; cân nặng sơ sinh ≥4.000 g) và trẻ lớn hơn tuổi thai (large-for-gestational-age – LGA; > bách phân vị 90 theo tuổi thai và giới), đồng thời xem xét tính phù hợp của ngưỡng BMI châu Á và tóm lược dữ liệu Việt Nam. <strong>Phương pháp:</strong> Tổng quan tường thuật, ưu tiên tổng quan hệ thống/phân tích gộp, nghiên cứu đoàn hệ và hướng dẫn lâm sàng có ước lượng định lượng. GWG được phân loại dưới/đúng/vượt so với khuyến nghị Viện Y học Hoa Kỳ (IOM) 2009 theo từng nhóm BMI. <strong>Kết quả:</strong> Thừa cân/béo phì trước mang thai liên quan nhất quán với tăng nguy cơ macrosomia và LGA; một số đoàn hệ ghi nhận mỗi tăng 1 kg/m² BMI làm tăng nguy cơ macrosomia khoảng 13–24%. Các phân tích gộp cho thấy GWG vượt ngưỡng IOM làm tăng nguy cơ macrosomia (OR≈1,95) và LGA (OR≈1,85) so với tăng cân trong phạm vi khuyến nghị; ví dụ BMI bình thường nên tăng 11,5–16 kg. Ngưỡng BMI châu Á (thừa cân ≥23,0; béo phì ≥27,5 kg/m²) có thể phân tầng nguy cơ tốt hơn trong bối cảnh châu Á. Dữ liệu Việt Nam chủ yếu từ báo cáo bệnh viện, cho thấy tỷ lệ trẻ ≥4.000 g đáng kể nhưng còn không đồng nhất định nghĩa kết cục và mức độ hiệu chỉnh yếu tố nhiễu.<br><strong>Kết luận:</strong> BMI trước mang thai cao và GWG quá mức là yếu tố nguy cơ nhất quán, có thể can thiệp; cần tối ưu cân nặng trước thụ thai, tư vấn GWG theo IOM với cân nhắc ngưỡng BMI châu Á và kiểm soát đường huyết (đặc biệt ở đái tháo đường thai kỳ) để giảm macrosomia/LGA.</p>Trần Danh TrườngPhan Thanh TàiNguyễn Kim Vượng
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4356TÁC ĐỘNG CỦA BÉO PHÌ, ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, HÚT THUỐC ĐẾN KẾT QUẢ MỔ CỘT SỐNG
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4357
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Tổng hợp bằng chứng hiện nay về ảnh hưởng của béo phì, đái tháo đường và hút thuốc đối với kết quả chu phẫu và dài hạn sau phẫu thuật cột sống, đồng thời gợi ý các chiến lược tối ưu hóa.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Tổng quan tường thuật các tổng quan hệ thống, phân tích gộp, hướng dẫn và nghiên cứu đoàn hệ quy mô lớn công bố chủ yếu giai đoạn 2016-2025 trên PubMed và các tạp chí chuyên ngành cột sống. Các kết cục chính gồm nhiễm trùng vết mổ, biến chứng hô hấp và thận, khớp giả/không liền xương, mổ lại, thời gian nằm viện và thang điểm do người bệnh tự báo cáo.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Béo phì liên quan tăng nguy cơ không liền xương và điểm số kết cục do người bệnh báo cáo xấu hơn sau hàn xương thắt lưng; nhiều thủ thuật ghi nhận tăng biến cố chu phẫu, song không phải tất cả. Đái tháo đường làm tăng nguy cơ nhiễm trùng vết mổ và biến chứng nội khoa; HbA1c trước mổ tăng (7,5-8,0%) liên quan nguy cơ nhiễm trùng cao hơn và hồi phục kém. Hút thuốc làm tăng rõ rệt nguy cơ khớp giả và kết cục bất lợi sau hàn xương; cai thuốc ≥ 4 tuần trước mổ giúp giảm biến chứng nhiễm trùng, hô hấp và liền vết mổ. Các lộ trình phục hồi sớm sau phẫu thuật hỗ trợ tối ưu hóa yếu tố nguy cơ và cho thấy lợi ích trong chăm sóc phẫu thuật cột sống.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Béo phì, đái tháo đường và hút thuốc ảnh hưởng bất lợi đến kết quả mổ cột sống, đặc biệt sinh học liền xương và nguy cơ nhiễm trùng. Cần ưu tiên các gói tiền phục hồi chức năng gồm quản lý cân nặng, tối ưu hóa đường huyết (mục tiêu HbA1c ≤ 7,5% khi khả thi) và xác minh cai thuốc lá ≥ 4 tuần nhằm cải thiện kết cục.</p>Phan Quốc TrungPhan Thanh Tài
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4357ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ UỐNG DUNG DỊCH CARBOHYDRATE TRƯỚC PHẪU THUẬT RĂNG KHÔN
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4358
<p>Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng được thực hiện tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội tiến hành trên 64 người bệnh (ASA I–II, 18–60 tuổi) nhằm so sánh hiệu quả của uống dung dịch carbohydrate Carberas so với chế độ nhịn ăn uống trước phẫu thuật nhổ răng khôn. Nhóm can thiệp được uống 600 ml Carberas vào tối hôm trước và 300 ml trước gây mê ít nhất 2 giờ, trong khi nhóm chứng nhịn ăn từ 22 giờ đêm hôm trước phẫu thuật. Kết quả: Tuổi, BMI, thời gian phẫu thuật và số răng nhổ giữa hai nhóm không khác biệt (p > 0,05). Nhóm can thiệp có điểm khát nước và khô miệng thấp hơn đáng kể so với nhóm chứng cả trước (p < 0,01) và sau phẫu thuật (p < 0,01). Nồng độ glucose máu trước và sau mổ giữa hai nhóm không khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), mặc dù đều tăng nhẹ sau mổ nhưng vẫn trong giới hạn bình thường. Giá trị CSA và thể tích tồn lưu dạ dày ở hai nhóm tương đương (p>0,05), không trường hợp nào có thể tích >1,5 ml/kg và không ghi nhận biến chứng hít sặc. Như vậy, việc uống carbohydrate Carberas trước phẫu thuật nhổ răng khôn an toàn và giúp cải thiện trải nghiệm lâm sàng của người bệnh.</p>Nguyễn Quang BìnhVũ Doãn TúDoãn Quốc Thái
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4358NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI BỆNH VỀ BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP THEO BỘ CÂU HỎI BIPQ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4359
<p>Nhận thức của người bệnh về bệnh viêm khớp dạng thấp có vai trò quan trong trong quá trình điều trị, ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ tuân thủ và hiệu quả can thiệp.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát nhận thức của người bệnh về bệnh viêm khớp dạng thấp theo bộ câu hỏi BIPQ và phân tích một số yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 149 người bệnh viêm khớp dạng thấp, chẩn đoán theo tiêu chuẩn ACR/EULAR 2010 từ tháng 9/2024 đến tháng 8/2025, khám và điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, sử dụng bộ câu hỏi đánh giá nhận thức về bệnh tật BIPQ (Brief Illness Perception Questionnaire). Tổng điểm BIPQ càng cao phản ánh mức độ nhận thức về bệnh càng tiêu cực.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Điểm BIPQ trung bình là 44,88 ± 7,44, tương ứng với mức độ nhận thức tiêu cực mức độ trung bình. Người bệnh có nhận thức tiêu cực mức độ trung bình và cao chiếm tỉ lệ 74,5%. Người bệnh dưới 55 tuổi (OR 3,93), mức độ đau VAS trung bình và nặng (OR 7,1), chi phí điều trị trên 2 triệu đồng/tháng (OR 4,93) là yếu tố liên quan độc lập với nhận thức tiêu cực mức độ cao.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Người bệnh VKDT có nhận thức tiêu cực về bệnh mức độ trung bình. Cần có các biện pháp can thiệp nhằm nâng cao nhận thức đặc biệt ở nhóm dưới 55 tuổi, tăng cường quản lý đau, giảm gánh nặng chi phí giúp người bệnh giảm lo lắng, tuân thủ điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống.</p>Hoàng Thị HạnhPhạm Hoài Thu
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4359HỒ SƠ SỨC KHỎE TIM MẠCH – CHUYỂN HÓA VÀ THÀNH PHẦN CƠ THỂ TẠI PHÒNG KHÁM BÁC SĨ GIA ĐÌNH: NGHIÊN CỨU CẮT NGANG VÀ TRẢI NGHIỆM BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG KIOSK Y TẾ
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4360
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm sức khỏe tim mạch – chuyển hóa và thành phần cơ thể của người đến khám tại một số phòng khám bác sĩ gia đình (PK BSGĐ), đồng thời giới thiệu trải nghiệm bước đầu về việc ứng dụng thiết bị Kiosk y tế trong chăm sóc ban đầu.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang, thực hiện tại ba PK BSGĐ từ tháng 3 đến tháng 5/2025. Người tham gia ≥14 tuổi, được đo huyết áp và thành phần cơ thể bằng thiết bị Kiosk y tế tích hợp công nghệ phân tích trở kháng điện sinh học.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong 715 người tham gia, tuổi trung bình là 50,9 ± 15,1; 60,1% là nữ. Có sự khác biệt rõ giữa nam và nữ về khối lượng cơ, mỡ, nước và các chỉ số chuyển hóa (p < 0,001). Tuổi càng cao, huyết áp và mỡ nội tạng tăng; ngược lại, tỷ lệ trao đổi chất cơ bản (BMR) và cơ bắp giảm. Những khác biệt này có ý nghĩa thống kê và phù hợp với y văn quốc tế.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kết quả nghiên cứu cung cấp dữ liệu tham khảo về hồ sơ sức khỏe tim mạch – chuyển hóa tại phòng khám gia đình. Việc sử dụng thiết bị Kiosk y tế cho thấy tính khả thi trong việc đo đồng bộ các chỉ số, gợi ý tiềm năng hỗ trợ sàng lọc và dự phòng bệnh mạn tính tại cộng đồng.</p>Huỳnh Trung SơnHồ Thị Thu HằngPhạm Dương Uyển BìnhLưu Nguyễn An KhươngHuỳnh Tấn TrungPhạm Lê An
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4360PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHI PHÍ ĐIỀU TRỊ SUY TIM TẠI BỆNH VIỆN LÊ VĂN THỊNH
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4361
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Xác định các yếu tố liên quan đến chi phí điều trị suy tim tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh.</p> <p><strong>Phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng dữ liệu hồi cứu từ 2.386 đợt điều trị suy tim trong năm 2024. Sử dụng phân tích hồi quy tuyến tính đa biến để xác định các yếu tố liên quan đến chi phí, trong đó biến phụ thuộc là tổng chi phí điều trị một đợt tính theo log(tổng chi phí), các biến độc lập bao gồm tuổi, giới tính, hình thức điều trị, thời gian điều trị, tình trạng sức khỏe cụ thể (rung nhĩ, đặt stent, đái tháo đường, suy thận mạn).</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Mẫu nghiên cứu có 2.226 đợt ngoại trú (93,2%) và 160 đợt nội trú (6,8%). Chi phí trung bình một đợt điều trị ngoại trú là 794.000 ± 321.000 đồng, chi phí trung vị một đợt điều trị nội trú là 5.353.000 đồng. Thuốc chiếm 85,8% chi phí điều trị ngoại trú và 37,8% chi phí điều trị nội trú. Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến (R² hiệu chỉnh = 0,844) cho thấy các yếu tố làm tăng chi phí gồm điều trị nội trú (+179,4%), đặt stent (+16,5%), suy tim kèm đái tháo đường type 2 (+30,3%), mỗi ngày điều trị thêm (+21,9%).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Chi phí điều trị suy tim có thể được ước lượng dựa vào trạng thái sức khỏe cụ thể của người bệnh, từ đó hỗ trợ quá trình lập kế hoạch tài chính và quản lý chi phí bệnh được tốt nhất.</p>Hoàng Thy Nhạc VũLê Hồng TuấnHà Châu HưngChung Khang KiệtTrần Văn Khanh
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4361XÂY DỰNG DANH MỤC PHÁC ĐỒ Y HỌC CỔ TRUYỀN NĂM 2024 TỪ DỮ LIỆU HIS (2022-2023) VÀ ĐÁNH GIÁ ĐỘ BAO PHỦ THEO MÔ HÌNH BỆNH TẬT NGOẠI TRÚ TẠI TUYẾN TỈNH
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4362
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xây dựng danh mục phác đồ y học cổ truyền năm 2024 dựa trên sử dụng thực tế và lượng hóa mức bao phủ so với mô hình bệnh tật ngoại trú tại tuyến tỉnh.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu hồi cứu cắt ngang, sử dụng dữ liệu HIS Khoa Y học cổ truyền, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang (1/2022-12/2023). Dữ liệu được làm sạch, phân định bệnh chính/bệnh kèm theo theo trường chẩn đoán trên HIS và đối chiếu ICD-10 - phác đồ. Thống kê tần suất/tỷ lệ sử dụng phác đồ; danh mục năm 2024 xây dựng theo nguyên tắc GIỮ-MỚI-LOẠI. Độ bao phủ được tính cho bệnh chính và kèm theo: tổng tỷ lệ các phác đồ GIỮ chia cho tổng tỷ lệ các phác đồ có số liệu lịch sử.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> 4 phác đồ có mức sử dụng cao được GIỮ (M17, I69.3, K29, M10). Danh mục năm 2024 gồm 10 phác đồ bệnh chính và 3 phác đồ kèm theo; MỚI chủ yếu bao phủ cơ xương khớp/phục hồi chức năng và tiêu hóa-chuyển hóa. Độ bao phủ đạt 96,6% ở bệnh chính (23,34/24,15) và 95,0% ở bệnh kèm theo (19,04/20,05); các phác đồ LOẠI có tỷ lệ rất thấp (≤ 1%).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Danh mục dựa trên bằng chứng HIS đạt mức bao phủ rất cao, tinh gọn nhóm ít dùng và lấp khoảng trống hai trục ưu tiên. Cách tiếp cận phù hợp tuyến tỉnh, tạo nền cho chuẩn hóa quy trình, giám sát tuân thủ và đánh giá trước-sau.</p>Nguyễn Thị Trúc AnTăng Khánh HuyNguyễn Quang HiểnLê Thị Kim YếnLê Bảo Lưu
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4362NGHIÊN CỨU NHỮNG TRƯỜNG HỢP HÚT BUỒNG TỬ CUNG Ở BỆNH NHÂN TỪ TRÊN 45 TUỔI CÓ NGHI NGỜ BỆNH LÝ NIÊM MẠC TỬ CUNG
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4363
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ các dạng tổn thương mô bệnh học niêm mạc tử cung (NMTC) và phân tích một số yếu tố liên quan ở phụ nữ từ trên 45 tuổi.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 299 bệnh nhân từ 45 tuổi trở lên, có nghi ngờ bệnh lý NMTC và được hút buồng tử cung tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An từ 01/2023 đến 12/2024.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong 299 trường hợp, tỷ lệ không có tổn thương chiếm 71,2%. Trong nhóm có tổn thương (n=86), tổn thương lành tính chiếm 69,8% (chủ yếu là tăng sinh NMTC điển hình), tổn thương ung thư và tiền ung thư chiếm 30,2% (gồm ung thư NMTC và tăng sinh NMTC không điển hình). Phân tích đa biến cho thấy các yếu tố liên quan độc lập làm tăng nguy cơ tổn thương ác tính/tiền ác tính bao gồm: tuổi dậy thì sớm <13 tuổi (OR=6,3; p=0,019), tình trạng mãn kinh (OR=6,0; p=0,028) và hình ảnh khối trong lòng tử cung trên siêu âm (OR=5,3; p=0,029). Độ dày niêm mạc tử cung không cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê trong mô hình đa biến.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Cần đặc biệt chú ý sàng lọc bệnh lý ác tính ở phụ nữ trên 45 tuổi đã mãn kinh, có tiền sử dậy thì sớm hoặc có hình ảnh khối bất thường trong lòng tử cung.</p>Ngô Vân ThanhPhạm Thị Thanh HiềnVõ Thị Quỳnh
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4363CHẤT LƯỢNG PHỤC HỒI SAU PHẪU THUẬT VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHI TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI NGHỆ AN NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4364
<p style="margin: 0cm; margin-bottom: .0001pt; line-height: 150%;"><strong><span style="font-size: 13.0pt; line-height: 150%;">Mục tiêu:</span></strong><span style="font-size: 13.0pt; line-height: 150%;"> Đánh giá chất lượng phục hồi sau phẫu thuật bằng bộ công cụ PostopQRS và phân tích một số yếu tố liên quan ở bệnh nhi tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2025.</span></p> <p style="margin: 0cm; margin-bottom: .0001pt; line-height: 150%;"><strong><span style="font-size: 13.0pt; line-height: 150%;">Đối tượng và phương pháp:</span></strong><span style="font-size: 13.0pt; line-height: 150%;"> Nghiên cứu mô tả tiến cứu có phân tích 384 bệnh nhi (6-15 tuổi) được phẫu thuật chương trình tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An từ ngày 01/12/2024-30/6/2025. Dữ liệu thu thập từ hồ sơ bệnh án và phỏng vấn bằng bộ công cụ PostopQRS tại các thời điểm 15 phút, 40 phút, ngày 1 và ngày 3 hậu phẫu. Xử lý và phân tích số liệu bằng SPSS 22.0.</span></p> <p style="margin: 0cm; margin-bottom: .0001pt; line-height: 150%;"><strong><span style="font-size: 13.0pt; line-height: 150%;">Kết quả:</span></strong><span style="font-size: 13.0pt; line-height: 150%;"> Nhóm tuổi 6-10 tuổi chiếm ưu thế (82,3%; Tuổi trung bình: 8,3 ± 2,3). 62,2% trẻ là nam. Tỷ lệ suy dinh dưỡng và suy dinh dưỡng nặng: 9,1% và 11,2%. Vô cảm nhiều nhất là gây mê nội khí quản (78,6%), tiếp theo gây mê mask thanh quản (20,3%), gây mê tĩnh mạch (1,1%). Ở thời điểm 40 phút sau phẫu thuật, tỷ lệ phục hồi: sinh lý 99%; đau 65,1%; cảm xúc 97,7%; nhận thức 7,8%. Phục hồi hoạt động hàng ngày 18,5% (ngày 1) và 23,7% (ngày 3). Phục hồi toàn bộ tại ngày 1 và ngày 3 lần lượt là 5,2% và 22,4%. Không ghi nhận biến chứng nghiêm trọng sau mổ. Các yếu tố liên quan đến phục hồi đau sớm gồm nhóm tuổi, phương pháp phẫu thuật và mức độ lo âu tiền phẫu.</span></p> <p style="margin: 0cm; margin-bottom: .0001pt; line-height: 150%;"><strong><span style="font-size: 13.0pt; line-height: 150%;">Kết luận:</span></strong><span style="font-size: 13.0pt; line-height: 150%;"> Thang đo PostopQRS cho phép đánh giá toàn diện quá trình phục hồi sau phẫu thuật ở trẻ em. Chất lượng phục hồi tốt có mối liên quan với độ tuổi, loại phẫu thuật và yếu tố tâm lý tiền phẫu. Cần có các chương trình can thiệp giáo dục tiền phẫu phù hợp lứa tuổi. </span></p>Nguyễn Thị Quỳnh TrangTrần Minh LongNguyễn Trọng TuấnNguyễn Thị Mai Thơ
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4364HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU VÀ CẢI THIỆN VẬN ĐỘNG CỘT SỐNG CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐIỆN TRƯỜNG CHÂM KẾT HỢP TAM TÝ THANG TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN ĐAU THẦN KINH HÔNG TO THỂ PHONG HÀN THẤP
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4365
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá hiệu quả giảm đau và cải thiện vận động của phương pháp điện trường châm kết hợp bài thuốc Tam tý thang trên người bệnh đau thần kinh tọa thể phong hàn thấp.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, so sánh trước sau điều trị trên 60 người bệnh chia đều thành 2 nhóm nghiên cứu và đối chứng tại Bệnh viện Y học cổ truyền Thái Bình từ tháng 10/2024 đến tháng 5/2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Sau 14 ngày điều trị, nhóm nghiên cứu có điểm đau VAS trung bình giảm xuống 1,17 ± 0,38 điểm, thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng (2,2 ± 0,48 điểm) với p < 0,05. Độ giãn cột sống thắt lưng (Schober) của nhóm nghiên cứu đạt 4,38 ± 0,85 cm, cao hơn nhóm đối chứng (3,52 ± 0,76 cm, p < 0,05). Các chỉ số về biên độ Lasègue và tầm vận động (gấp, duỗi, nghiêng) ở nhóm nghiên cứu đều cải thiện tốt hơn nhóm đối chứng (p < 0,05). Tỷ lệ xếp loại kết quả điều trị tốt ở nhóm nghiên cứu đạt 80%, cao hơn so với nhóm đối chứng (50%).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Phác đồ điện trường châm kết hợp bài thuốc Tam tý thang cho hiệu quả giảm đau và phục hồi chức năng vận động cột sống thắt lưng vượt trội so với điện châm thường quy sau 14 ngày điều trị.</p>Mai Đức HânNguyễn Trung AnhPhí Thị NgọcBùi Quốc HưngPhạm Ngọc HàNguyễn Anh Tuấn
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4365CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SẠCH SỎI CỦA NỘI SOI LẤY SỎI ĐƯỜNG MẬT QUA ĐƯỜNG HẦM KEHR BẰNG ỐNG SOI MỀM
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4366
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá tỷ lệ sạch sỏi, còn sỏi và xác định các yếu tố liên quan đến kết quả nội soi lấy sỏi đường mật qua đường hầm ống Kehr bằng ống soi mềm.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 207 bệnh nhân còn sỏi đường mật sau phẫu thuật đang mang ống Kehr, được nội soi lấy sỏi qua đường hầm Kehr tại Bệnh viện Bình Dân từ tháng 1/2022 đến tháng 4/2025. Các yếu tố liên quan đến kết quả sạch sỏi được phân tích bằng kiểm định Chi-square hoặc Fisher, với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tuổi trung bình của bệnh nhân là 59,46 ± 13,85; nữ chiếm 64,3%. Tỷ lệ sạch sỏi đạt 87,4%, còn sỏi 12,6% khi đánh giá bằng siêu âm bụng. Hai yếu tố có liên quan có ý nghĩa thống kê đến tình trạng còn sỏi là số lượng sỏi ≥ 5 viên hoặc sỏi dạng cây (p = 0,032) và hẹp đường mật (p = 0,01). Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa giữa tình trạng sạch sỏi với bệnh lý kèm theo hoặc tình trạng viêm, dễ chảy máu đường mật.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Tỷ lệ sạch sỏi sau lấy sỏi qua đường hầm Kehr bằng ống soi mềm đạt 87,4%, tỷ lệ còn sỏi là 12,6%. Hai yếu tố có liên quan đến tỷ lệ sót sỏi là số lượng sỏi nhiều hoặc sỏi dạng cây (p = 0,032) và hẹp đường mật (p = 0,01).</p>Huỳnh Thanh LongNguyễn Tạ QuyếtLê Nguyên KhôiLê Đức Anh Tuấn
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4366KHẢO SÁT TÌNH HÌNH ĐIỀU TRỊ SUY TIM THEO KHUYẾN CÁO HỘI TIM MẠCH VIỆT NAM TẠI BỆNH VIỆN TRƯNG VƯƠNG
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4367
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định việc điều trị suy tim theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Việt Nam tại Bệnh viện Trưng Vương.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong><em> </em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 119 bệnh nhân suy tim điều trị ngoại trú. Phân tích hồi quy logistic và hồi quy tuyến tính được sử dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phân loại EF và tổng số nhóm thuốc sử dụng.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ bệnh nhân được tiếp cận với các nhóm thuốc trụ cột ở mức rất cao: ức chế hệ renin (92,4%), ức chế SGLT2 (90,7%), kháng aldosterone (84,8%) và chẹn beta (82,4%). Có 61,3% bệnh nhân đạt chuẩn phối hợp “tứ trụ”. Nhóm SGLT2i đạt tỷ lệ liều đích tối ưu (89,9%). Ngược lại, các nhóm ACEi/ARB/ARNI, chẹn beta và MRA có tỷ lệ đạt liều đích dưới 1%. Bệnh thận mạn là yếu tố cản trở duy nhất có ý nghĩa thống kê làm giảm số lượng nhóm thuốc phối hợp (B = -0,670; p < 0,001).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Bệnh viện Trưng Vương đã đạt được thành công trong việc triển khai đa trị liệu sớm cho bệnh nhân suy tim, đặc biệt là ưu thế của SGLT2i trên bệnh nhân thể trạng nhỏ. Tuy nhiên, tỷ lệ đạt liều đích các thuốc truyền thống còn thấp, đòi hỏi chiến lược chỉnh liều cá thể hóa.</p>Trần Thanh TuấnPhan Tấn Tài
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4367ĐÁNH GIÁ TỶ LỆ LO ÂU, TRẦM CẢM, SUY DINH DƯỠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4368
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá lo âu, trầm cảm, suy dinh dưỡng và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân ung thư.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 118 bệnh nhân ung thư đang điều trị tại Khoa Ung bướu,<strong> B</strong>ệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. Tình trạng dinh dưỡng được đánh giá dựa vào Global Leadership Initiative on Malnutrition (GLIM) và thang đo Hospital Anxiety and Depression Scale (HADS) được sử dụng để đánh giá lo âu, trầm cảm.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong 118 bệnh nhân, có 32,2% bệnh nhân được đánh giá có suy dinh dưỡng dựa vào GLIM; 9,3% thực sự lo âu và 16,1% thực sự trầm cảm dựa vào HADS. Đáng chú ý, trầm cảm được tìm thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê đến tình trạng suy dinh dưỡng (OR = 4,255; 95% CI = 1,527-11,855).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Suy dinh dưỡng và lo âu, trầm cảm là những vấn đề sức khỏe phổ biến ở bệnh nhân ung thư, và có sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Nghiên cứu nhấn mạnh việc sàng lọc dinh dưỡng cần phải kết hợp với việc đánh giá sức khỏe tâm thần ngay từ giai đoạn chẩn đoán. </p>Trần Thị TáoLê Thị VươngBùi Thị Phương AnhHoàng Thị Bạch YếnNguyễn Thị Thanh NhànNguyễn Thị Bảy
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4368ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA SINH VIÊN DƯỢC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NỘI
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4369
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá sự hài lòng của sinh viên cao đẳng dược năm thứ 3 với hoạt động đào tạo của Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính thực hiện trên sinh viên cao đẳng dược năm thứ 3 tại Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Sinh viên đánh giá cao đội ngũ giảng viên với tỷ lệ hài lòng 93,2% (Mean = 4,41) và chương trình đào tạo với tỷ lệ hài lòng 93,11% (Mean = 4,31). Tiếp theo là quy trình và hoạt động hỗ trợ người học với tỷ lệ hài lòng 89,1% (Mean = 4,25). Có 68,4% sinh viên hài lòng với cơ sở vật chất (Mean = 3,85). Tỷ lệ hài lòng chung là 91,5% (Mean = 4,21).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Sinh viên dược năm thứ 3 hài lòng ở mức tương đối cao với hoạt động đào tạo của Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội. Để nâng cao chất lượng đào tạo, nhà trường cần tiếp tục duy trì điểm mạnh của đội ngũ giảng viên, cải thiện một số vấn đề về lịch học, lịch thi, hệ thống wifi, web trường và thái độ phục vụ của cán bộ phòng/ban.</p>Hoàng Thị Nguyệt PhươngPhan Thị Thanh TâmNguyễn Thanh MaiNguyễn Thị LượngNguyễn Văn HưngPhạm Văn Linh
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4369MÔ HÌNH BỆNH TẬT NGOẠI TRÚ TẠI KHOA Y HỌC CỔ TRUYỀN MỘT BỆNH VIỆN TUYẾN TỈNH GIAI ĐOẠN 2022-2023
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4370
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả mô hình bệnh tật ngoại trú tại Khoa Y học cổ truyền, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang (2022-2023), phân bố theo chương ICD‑10 và biến thiên lượt khám theo thời gian.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu hồi cứu cắt ngang toàn bộ hồ sơ ngoại trú giai đoạn 2022-2023; dữ liệu HIS sau làm sạch. Phân tích mô tả và so sánh tỷ lệ bằng χ² hoặc Fisher, p < 0,05.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> 10.432 lượt đủ tiêu chuẩn (năm 2022: 2791 lượt; năm 2023: 7641 lượt). Nhóm ≥ 60 tuổi chiếm 61% cả hai năm; tỷ lệ nam tăng 6,96% (p = 0,01). Chương XIII vẫn chiếm ưu thế nhưng giảm 14,06% (p < 0,01), trong khi chương XI tăng 9,89% (p < 0,01) và chương X tăng 3,59% (p < 0,01). Chẩn đoán thường gặp: thoái hóa cột sống, đau thần kinh tọa, thoái hóa khớp gối; bệnh kèm theo thường gặp: trào ngược dạ dày-thực quản và viêm dạ dày-tá tràng. Lượt khám tăng sau thời điểm di dời cơ sở (tháng 2/2023) theo thời gian.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Mô hình bệnh tật ngoại trú y học cổ truyền vẫn chủ đạo cơ xương khớp, đồng thời xuất hiện xu hướng tăng bệnh tiêu hóa và hô hấp. Ưu tiên củng cố quản lý đau mạn tính và thoái hóa, tích hợp sàng lọc tiêu hóa‑chuyển hóa và điều chỉnh nguồn lực theo nhu cầu.</p>Nguyễn Thị Trúc AnTăng Khánh HuyNguyễn Quang HiểnLê Thị Kim YếnLê Bảo Lưu
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4370KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ CHĂM SÓC DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA PHỤ NỮ MANG THAI, SAU SINH TẠI XÃ YÊN BÌNH VÀ BẢO ÁI TỈNH LÀO CAI NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4371
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành về chăm sóc dinh dưỡng và xác định một số yếu tố liên quan của phụ nữ mang thai và sau sinh tại xã Yên Bình và Bảo Ái tỉnh Lào Cai 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Phỏng vấn 248 phụ nữ mang thai và bà mẹ nuôi con nhỏ 1-3 tháng. Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang tại thời điểm tháng 4-5/2025.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Bà mẹ có kiến thức đúng về vai trò của các chất cung cấp năng lượng và vi chất chiếm 52,1%, bổ sung chất sắt 45,1%. Chất đạm chiếm 43,5%, chất béo chiếm 36,2%. Mức độ kiến thức chung đạt chiếm 22,98%. Thực hành đúng về bổ sung chất tinh bột trong 3 tháng đầu và 3 tháng cuối chiếm tỷ lệ 23,7% và 26,2%, bổ sung chất đạm chiếm 20,9% và 17,7%. Mức độ thực hành chung đạt 34,3% và không đạt chiếm 65,7%. Có mối liên quan giữa kiến thức và thực hành với trình độ học vấn của bà mẹ với p<0,05.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Kiến thức và thực hành chăm sóc dinh dưỡng của bà mẹ có thai và nuôi con nhỏ còn hạn chế. Điều này có liên quan đến trình độ học vấn của bà mẹ đặc biệt là những bà mẹ đã học từ THPT trở lên. Cần tăng cường tuyên truyền, tư vấn, hướng dẫn cho bà mẹ về kiến thức và kỹ năng thực hành chăm sóc dinh dưỡng để nâng cao sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em.</p>Hoàng Lê Lan PhươngTrần Minh NhungNguyễn Ngọc NghĩaNguyễn Thị Trang Nhung
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4371KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ PHÒNG CHỐNG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE CỦA NGƯỜI DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG NĂM 2025 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4375
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống sốt xuất huyết Dengue của người dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long năm 2025 và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang mô tả kết hợp định lượng và định tính, tiến hành trên 420 chủ hộ hoặc người đại diện hộ gia đình từ 18 tuổi trở lên và 18 người có vai trò quan trọng trong cộng đồng. Phỏng vấn bằng bảng hỏi cấu trúc và quan sát trực tiếp hộ dân, đồng thời phỏng vấn sâu với người có ảnh hưởng trong phòng chống SXHD theo bảng hướng dẫn.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ người dân có kiến thức đúng, thái độ đúng và thực hành đúng lần lượt là 67,9%; 77,9% và 57,9%. Có mối liên quan thống kê giữa kiến thức, thái độ và thực hành (p < 0,05). Trình độ học vấn có mối liên quan đến kiến thức và thực hành; nghề nghiệp và nhóm tuổi ảnh hưởng đến thái độ và thực hành. Kiến thức đúng có liên quan đến thái độ đúng và cả hai đều có ảnh hưởng đến thực hành đúng.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kiến thức và thái độ của người dân tương đối tốt, nhưng thực hành phòng chống sốt xuất huyết Dengue còn thấp. Cần đa dạng hóa hình thức truyền thông nâng cao ý thức người dân, đặc biệt là tổ chức định kỳ diệt lăng quăng/bọ gậy. Phát huy vai trò của đoàn thể và người có ảnh hưởng để thúc đẩy thái độ tích cực, thói quen thực hành phòng chống SXHD bền vững tại cộng đồng</p>Lâm Bảo LộcHồ Đắc Thoàn
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4375THỰC TRẠNG NHIỄM NẤM TRÊN CÁC VỊ THUỐC ĐÔNG DƯỢC TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN NGHÊN AN NĂM 2023
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4376
<p>Mục tiêu: Xác định tỷ lệ nhiễm và thành phần loài nấm trên các vị thuốc đông dược tại Bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An năm 2023.</p> <p>Đối tượng và phương pháp: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, cỡ mẫu nghiên cứu là 170 mẫu thuốc đông dược tại Bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An được bảo hiểm chi trả. Các kỹ thuật được sử dụng trong nghiên cứu là: nuôi cấy nấm trong môi trường Sabouraud; định danh loài bằng hình thái và PCR giải trình tự gen bằng các gen ITS1, ITS4, ITS5, và NL4. Trình tự thu được so sánh với dữ liệu trên ngân hàng gen quốc tế để xác định loài.</p> <p>Kết quả và kết luận: Tỷ lệ nhiễm nấm là 32,9%. Tỷ lệ nhiễm nấm ở các vị thuốc có nguồn gốc từ rễ cao nhất (40,3%); từ cành, lá, hoa, quả là 32,08%. Có 50 mẫu nhiễm 1 loài nấm, 5 mẫu nhiễm 2 loài nấm, 1 mẫu nhiễm 3 loài nấm; đã xác định được 63 chủng nấm thuộc 16 loài, trong đó có 61 mẫu đã xác định được loài, 2 mẫu chưa xác định được loài. Có 28 mẫu nhiễm <em>Aspergillus</em> chiếm 44,44% gồm 8 loài, trong đó <em>A.niger</em> chiếm tỷ lệ cao nhất (15,87%); 35 mẫu nhiễm các loài nấm khác chiếm 55,56% gồm 8 loài. Đã xác định được 6 giống nấm gồm <em>Aspergillus,</em> <em>Rhizopus </em>spp,<em> Penicillium </em>spp,<em> Fusarium </em>spp,<em> Phoma </em>sp và <em>Cladosporidium</em>.</p>Hồ Văn ThăngNguyễn Thị Kim DinhNguyễn Thị NgaDương Đình ChỉnhCao Bá Lợi
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4376PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ CHO NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP TẠI BỆNH VIỆN LÊ VĂN THỊNH NĂM 2024
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4377
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát tình hình điều trị nội trú cho người bệnh tăng huyết áp tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh, từ đó có những thông tin cập nhật hỗ trợ việc thực hiện những đánh giá định kỳ về thực tiễn điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thực hiện thông qua hồi cứu dữ liệu điều trị nội trú cho người bệnh tăng huyết áp tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh năm 2024.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Nghiên cứu trên 576 đợt điều trị nội trú tăng huyết áp cho thấy tỷ lệ nữ giới 64,4%, nam giới 35,6%. Phân loại người bệnh theo JNC-7 có 40,6% tăng huyết áp độ 2; 4,3% tăng huyết áp độ 1 và 55,1% tăng huyết áp nguyên phát. Amlodipin là hoạt chất được chỉ định nhiều nhất (53,6%), tiếp theo là Captopril (44,1%), Bisoprolol (24,7%), Losartan (18,9%) và Telmisartan (13,4%); đa phần người bệnh được chỉ định từ 2-4 hoạt chất điều trị tăng huyết áp trong một đợt điều trị (67,5%). Phân tích theo nhóm cơ chế cho thấy nhóm thuốc chẹn kênh canxi được sử dụng nhiều nhất (78,3%), tiếp theo là nhóm thuốc ức chế men chuyển angiotensin (55,2%), nhóm thuốc chẹn thụ thể angiotensin II (45,8%), nhóm thuốc chẹn beta (31,9%) và thuốc lợi tiểu (19,4%). Đa số người bệnh có bệnh đồng mắc (89,8%) với rối loạn lipid máu chiếm tỷ lệ cao nhất (86,1%). Người bệnh có từ 3 bệnh đồng mắc trở lên có xu hướng tăng thời gian nằm viện.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kết quả nghiên cứu góp phần xây dựng các hướng dẫn, chính sách về sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp phù hợp, an toàn, hiệu quả hơn trong tương lai. Cần cá thể hóa điều trị dựa trên đặc điểm người bệnh và quản lý toàn diện các bệnh đồng mắc để tối ưu hóa kết quả điều trị.</p>Hoàng Thy Nhạc VũNguyễn Đức TùngĐỗ Hồng Mỹ PhươngĐỗ Quang DươngLê Hồng Tuấn
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4377THỰC TRẠNG KIẾN THỨC AN TOÀN NGƯỜI BỆNH CỦA ĐIỀU DƯỠNG VÀ HỘ SINH TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2024
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4378
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng kiến thức an toàn người bệnh của điều dưỡng và hộ sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2024.</p> <p><strong>Đối tượng và </strong><strong>phương pháp</strong><strong>:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 520 điều dưỡng và hộ sinh đang làm việc tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ tháng 8/2024 đến tháng 5/2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ kiến thức đạt về an toàn người bệnh của điều dưỡng và hộ sinh là 67,9%. Kiến thức đạt của điều dưỡng và hộ sinh về xác định chính xác danh tính người bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất (80,4%); tiếp đến phòng sự cố té ngã cho bệnh nhân (76%), cải thiện giao tiếp hiệu quả (74%), quản lý an toàn phẫu thuật (70,2%), sử dụng thuốc an toàn đúng cách (57,5%); và kiến thức đạt thấp nhất là quản lý nguy cơ nhiễm khuẩn (48,5%).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực tiễn quan trọng làm cơ sở để theo dõi, đánh giá về kiến thức an toàn người bệnh, đồng thời gợi ý các khuyến cáo trong việc nâng cao kiến thức của nhân viên y tế, đặc biệt ưu tiên là kiểm soát nhiễm khuẩn.</p>Phùng Thanh HùngTrần Xuân ĐạiLương Bảo KhánhBùi Thị Mỹ AnhNguyễn Thị Hoài Thu
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4378THỰC TRẠNG CĂNG THẲNG CỦA SINH VIÊN Y KHOA NĂM THỨ BA TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y-DƯỢC THÁI NGUYÊN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NĂM HỌC 2024-2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4379
<p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả thực trạng căng thẳng và một số yếu tố liên quan đến căng thẳng của sinh viên y khoa năm thứ ba Trường Đại học Y-Dược Thái Nguyên trong năm học 2024–2025.</p> <p><strong><em>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</em></strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 423 sinh viên năm thứ ba trong thời gian từ 4/2024 đến 8/2025.</p> <p><strong><em>Kết quả: </em></strong>Tỷ lệ sinh viên mắc stress là 61,9%, trong đó mức độ trung bình đến rất nặng chiếm 69,5%. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với stress bao gồm: giới tính nữ (OR = 1,90; p = 0,002), xuất thân từ nông thôn (OR = 1,71; p = 0,009), tình trạng kinh tế khó khăn (OR = 5,36; p < 0,001), từng học lại (OR = 7,85; p < 0,001), không có bạn thân (OR = 1,93; p = 0,007), không hài lòng với học lâm sàng (OR = 1,53; p = 0,043), lịch trực (OR = 1,78; p = 0,030) và có đi làm thêm (OR = 1,59; p = 0,022).</p> <p><strong><em>Kết luận: </em></strong>Căng thẳng là vấn đề phổ biến ở sinh viên y khoa năm thứ ba với nhiều yếu tố liên quan cá nhân, học tập, mối quan hệ gia đình, xã hội. Cần có các biện pháp hỗ trợ tâm lý, cải tiến chương trình học và sàng lọc sớm nhằm giảm thiểu nguy cơ stress cho sinh viên.</p>Nguyễn Đình HùngTrần Quỳnh AnhNguyễn Thị Phương OanhNguyễn Thị QuyênLương Thị Thu Hoài
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4379MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÒNG CHỐNG SỐT RÉT TẠI KHU VỰC KHÁNH VĨNH, TỈNH KHÁNH HOÀ NĂM 2023-2024
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4380
<p><strong>M</strong><strong>ục tiêu: </strong>Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát và phòng chống sốt rét tại khu vực Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hoà năm 2023-2024.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang kết hợp định lượng và định tính.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Số ca mắc giảm từ 196 (năm 2023) xuống 184 (năm 2024), chủ yếu ở nhóm 5-15 tuổi, không có tử vong; hơn 90% dân được bảo vệ bằng màn tẩm hóa chất; vật tư, thuốc men đảm bảo. Sốt rét ác tính tăng từ 1 lên 19 ca; <em>Plasmodium</em><em> falciparum</em> chiếm 48,9% năm 2024. Yếu tố ảnh hưởng tích cực: hướng dẫn chuyên môn đầy đủ, nhân lực đảm bảo, hạ tầng cơ bản được trang bị. Yếu tố tiêu cực gồm: di dân tự do, ngủ rẫy không màn, tự mua thuốc, dân trí và kinh tế thấp, thiết bị xuống cấp, mạng internet yếu, kinh phí hạn chế, địa bàn đồi núi thuận lợi cho muỗi phát triển.</p> <p><strong>Khuyến nghị:</strong> Rà soát lại điểm nóng, tập huấn chẩn đoán sốt rét ác tính, xây dựng truyền thông đa ngữ, nâng cấp công nghệ thông tin; lập bản đồ nguy cơ, tăng cường giám sát ký sinh trùng, theo dõi sử dụng màn; quản lý dân đi rừng, ngủ rẫy, phối hợp trường học, truyền thông bằng tiếng dân tộc thiểu số.</p>Lê Thị Kim LiênLê Minh Thi
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4380KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ SỬ DỤNG KHÁNG SINH CHO TRẺ DƯỚI 5 TUỔI CỦA CÁC BÀ MẸ TẠI XÃ LIÊM CẦN, HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM, NĂM 2024
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4381
<p><strong><em>1) </em></strong><strong><em>Mục tiêu</em></strong>: Mô tả kiến thức, thực hành sử dụng kháng sinh cho trẻ của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, năm 2024.</p> <p><strong><em>2) Phương pháp nghiên cứu</em></strong>: Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang. Phỏng vấn 96 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Liêm Cần.</p> <p><strong><em>3) </em></strong><strong><em>Kết quả:</em></strong> Tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức tốt về sử dụng KS tương đối thấp (52,1%); 52,1% các bà mẹ trẻ lời đúng việc cần sử dụng KS đúng liều theo đơn của bác sỹ; 46,9% các bà mẹ cho rằng cần sử dụng KS đủ số ngày được chỉ định. Tỷ lệ các bà mẹ dùng KS cho con theo đơn của bác sỹ đạt 59,0%. Tỷ lệ các bà mẹ kiểm tra hạn dùng của thuốc trước khi dùng cho trẻ là 66,7%; 53,8% tỷ lệ bà mẹ đưa con đi khám lại sau 3 ngày dùng thuốc không đỡ còn thấp (53,8%); 25,6% các bà mẹ tự ý đổi thuốc khi thấy trẻ dùng thuốc sau 3 ngày không đỡ.</p> <p><strong><em>4) Kết luận:</em></strong> Nhìn chung, kiến thức của các bà mẹ về sử dụng KS còn hạn chế <em>(chỉ có 52,1% các bà mẹ có kiến thức tốt về sử dụng KS).</em> Thực hành dùng thuốc KS theo đơn của các bà mẹ chưa được tốt <em>(59%).</em> Khoảng một nửa số bà mẹ cho con đi khám lại sau 3 ngày dùng thuốc không đỡ và có tới 25,6% các bà mẹ tự ý đổi thuốc kháng sinh cho con.</p>Phạm Phương Liên
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4381TRẦM CẢM, LO ÂU, STRESS Ở BA THÁNG CUỐI THAI KỲ VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI CHỒNG/BẠN TÌNH
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4382
<p><strong>Mục tiêu: </strong>1) Xác định tỷ lệ mắc các triệu chứng trầm cảm, lo âu, stress ở phụ nữ mang thai ba tháng cuối thai kỳ sử dụng thang đo DASS-21; 2) Khảo sát mối liên quan giữa mối quan hệ với chồng/bạn tình và trầm cảm, lo âu, stress ở phụ nữ mang thai ba tháng cuối thai kỳ.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 232 phụ nữ mang thai ba tháng cuối thai kỳ tại Bệnh viện Trường Đại học Y-Dược Huế và Bệnh viện Trung ương Huế từ 07/2024 đến 05/2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Các triệu chứng lo âu là những biểu hiện gặp nhiều nhất với tỷ lệ 22,8%, triệu chứng trầm cảm và stress ít gặp hơn với tỷ lệ tương tự nhau là 6,5%. Các đặc điểm của mối quan hệ với chồng/bạn tình liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress trong ba tháng cuối thai kỳ ở phụ nữ mang thai (p<0,05) bao gồm: đánh giá chung về mối quan hệ là không tốt, bất đồng quan điểm, bị bạo lực và không nhận được sự hỗ trợ.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Sàng lọc trầm cảm, lo âu và stress là cần thiết trong quá trình chăm sóc trước sinh. Mối quan hệ với chồng/bạn tình có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng trầm cảm, lo âu và stress ở phụ nữ mang thai ba tháng cuối thai kỳ.</p>Lê Hoàng TrâmNgô Quang HuyNguyễn Thị DuyênPhạm Thị LanNguyễn Hương GiangPhạm Hải PhướcDương Hà Thảo NguyênNguyễn Quang Ngọc Linh
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4382KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ PHÒNG CHỐNG BỆNH DẠI CỦA NGƯỜI DÂN ĐẾN TIÊM VẮC-XIN PHÒNG BỆNH DẠI TẠI TRUNG TÂM KIỂM SOÁT BỆNH TẬT TỈNH HẬU GIANG NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4383
<p>phòng bệnh dại tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Hậu Giang năm 2025.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 370 người dân đến tiêm vắc-xin phòng bệnh dại tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Hậu Giang.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Kết quả cho thấy tỷ lệ đối tượng có kiến thức chung về phòng bệnh dại đạt là 69,7%; tỷ lệ thực hành chung đúng về phòng bệnh dại đạt mức rất cao là 95,4%.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ thực hành cao phản ánh đặc điểm của đối tượng nghiên cứu là những người đã chủ động đến cơ sở y tế để tiêm vắc-xin. Tuy nhiên, việc vẫn còn gần 1/3 đối tượng có kiến thức chưa đạt (30,3%) cho thấy sự cần thiết phải tăng cường tư vấn trực tiếp tại các cơ sở y tế để lấp đầy khoảng trống kiến thức này.</p>Nguyễn Thanh BìnhNguyễn Kim Khánh TiênNguyễn Lê Ngọc GiàuNguyễn Văn Lành
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4383TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG KINH TẾ CỦA TĂNG CƯỜNG VI CHẤT DINH DƯỠNG VÀO THỰC PHẨM
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4384
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Thiếu vi chất dinh dưỡng là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng, gây ra tổn thất kinh tế đáng kể ở nhiều quốc gia. Tăng cường sắt, iod và kẽm vào thực phẩm là một biện pháp dự phòng được khuyến nghị rộng rãi, song việc triển khai chính sách tại một số bối cảnh còn gặp thách thức. Nghiên cứu này nhằm tổng hợp các bằng chứng quốc tế về tác động kinh tế của chương trình tăng cường 3 vi chất nói trên.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu tiến hành tổng quan tài liệu (desk study) từ hai cơ sở dữ liệu PubMed và Google Scholar, sàng lọc các nghiên cứu phù hợp và tổng hợp các phát hiện chính.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Các bằng chứng cho thấy chương trình tăng cường vi chất mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể. Tăng cường sắt có tỷ số lợi ích-chi phí dao động từ 6:1 đến 36:1 trong các bối cảnh nghiên cứu khác nhau. Chương trình iod hóa muối toàn dân ghi nhận lợi ích-chi phí lên đến 30:1 và giảm mạnh gánh nặng rối loạn do thiếu iod. Tăng cường kẽm, đặc biệt ở các quốc gia có mức tiêu thụ bột mì cao, cũng cho thấy hiệu quả tích cực với lợi ích-chi phí khoảng 14,6:1.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Các bằng chứng tổng hợp cho thấy tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm là một can thiệp y tế dự phòng đem lại lợi ích kinh tế đáng kể. Kết quả có thể hỗ trợ quá trình xem xét, điều chỉnh và hoàn thiện chính sách tăng cường vi chất dinh dưỡng tại Việt Nam.</p>Ong Thế DuệNguyễn Thị Mai PhươngĐào Anh Sơn
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4384THỰC TRẠNG THỜI GIAN CHỜ KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM MÁU THƯỜNG QUY CỦA NGƯỜI BỆNH NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103 NĂM 2024
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4385
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đo lường thời gian chờ khám, chờ lấy mẫu xét nghiệm, chờ có kết quả xét nghiệm và tổng thời gian khám của người bệnh ngoại trú; đồng thời xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến thời gian chờ tại Bệnh viện Quân y 103.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 303 bệnh nhân ngoại trú tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 4-9 năm 2024. Dữ liệu được trích xuất từ hệ thống quản lý bệnh viện về các mốc thời gian khám, lấy mẫu, trả kết quả và kết thúc quy trình. Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 26.0, sử dụng thống kê mô tả, so sánh và hồi quy đa biến để xác định yếu tố ảnh hưởng.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Thời gian chờ khám trung bình là 19,0 ± 14,7 phút; chờ lấy mẫu 16,5 ± 13,0 phút; chờ kết quả xét nghiệm huyết học 55,3 ± 25,4 phút và sinh hóa 98,0 ± 24,6 phút. Tổng thời gian khám trung bình là 234,9 ± 113,8 phút (khoảng 3,9 giờ). Thời gian chờ và tổng thời gian khám dài hơn rõ rệt vào buổi sáng so với buổi chiều (p < 0,001) và tăng theo số phòng khám phải thực hiện (p < 0,001).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Thời gian chờ xét nghiệm, đặc biệt xét nghiệm sinh hóa, là thành phần kéo dài nhất trong quy trình khám ngoại trú. Cần tối ưu hóa quy trình xét nghiệm và phân bổ lịch khám hợp lý để rút ngắn tổng thời gian khám, qua đó nâng cao sự hài lòng của người bệnh.</p>La Quang HổLê Thị Ngọc MaiNguyễn Duy ThànhNguyễn Văn PhúNguyễn Thị Lan Anh
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4385KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ PHÒNG BỆNH SỎI ĐƯỜNG TIẾT NIỆU CỦA NGƯỜI DÂN ĐẾN KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4386
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành về phòng bệnh sỏi đường tiết niệu của người dân đến khám, điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa Thủ Đức năm 2025 và xác định một số yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang và thu thập số liệu bằng phỏng vấn qua bộ câu hỏi được kiểm định (Cronbach’s Alpha=0,84) trên 400 người dân từ 18 tuổi trở lên đến khám và điều trị ngoại trú bệnh viện đa khoa Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Kiến thức chung về phòng bệnh sỏi tiết niệu của người bệnh đạt 35,5% và tỷ lệ không đạt chiếm 64,5%; 29,0% người bệnh đạt thực hành đúng trong phòng bệnh sỏi tiết niệu và tỷ lệ không đạt chiếm 71,0%. Nghiên cứu đã xác định được một số yếu tố liên quan đến kiến thức đúng như tình trạng hôn nhân (OR=2,6; KTC95%: 1,29-5,04; p=0,009), trình độ học vấn (OR=2,73; KTC95%: 1,23-4,91; p=0,006). Một số yếu tố liên quan đến thực hành đúng như giới tính (OR=5,04; KTC95%: 3,0-8,46; p=0,03), tình trạng hôn nhân (OR=2,22; KTC95%: 1,16-4,26; p=0,01) và lý do đến khám bệnh (OR=1,89; KTC95%: 1,08-3,42; p=0,03).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ kiến thức, thực hành đúng về phòng bệnh sỏi đường tiết niệu của đối tượng còn thấp. Tăng cường truyền thông, giáo dục sức khỏe về kiến thức đúng, thực hành đúng phòng bệnh sỏi tiết niệu cho người dân như lồng ghép tư vấn phòng bệnh sỏi trong quy trình khám thận–tiết niệu và sử dụng tài liệu hình ảnh, video ngắn tại phòng chờ khám bệnh.</p>Trần Huy PhướcHồ Đắc ThoànNguyễn Văn TrungTrần Quốc Cường
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4386KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VỀ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ TRONG NHÀ VÀ SỨC KHỎE CỦA CHA MẸ HỌC SINH TẠI MỘT TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4387
<p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Nghiên cứu mô tả kiến thức, thái độ và một số yếu tố liên quan về ô nhiễm không khí trong nhà và các ảnh hưởng đối với sức khỏe của cha mẹ học sinh tại trường Trung học cơ sở Thanh Đa, Hà Nội năm 2025.</p> <p><strong><em>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</em></strong> Thiết kế mô tả cắt ngang trên 439 cha mẹ của học sinh từ lớp 6 đến lớp 9. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền qua Google form dưới sự hỗ trợ của Ban Giám hiệu và giáo viên chủ nhiệm. Các yếu tố liên quan được xác định thông qua phân tích hồi quy logistic với khoảng tin cậy 95%.</p> <p><strong><em>Kết quả: </em></strong>Nghiên cứu ghi nhận 92,7% cha mẹ học sinh đã nghe nói về ô nhiễm không khí trong nhà. Tỷ lệ cha mẹ có kiến thức tốt đạt 51,2% và thái độ tích cực đạt 50,3% về các vấn đề liên quan đến ô nhiễm không khí trong nhà và sức khỏe. Các yếu tố liên quan đến kiến thức gồm nghề nghiệp, tôn giáo, cấu trúc gia đình, tình trạng hút thuốc của bản thân và người cùng sống. Thái độ tích cực có liên quan đến giới tính, nghề nghiệp, tôn giáo, vị trí nấu ăn và cấu trúc gia đình. Đặc biệt, cha mẹ có kiến thức tốt có khả năng có thái độ tích cực cao gấp 34,5 lần so với người có kiến thức chưa tốt (95% CI: 20,3–58,6).</p> <p><strong><em>Kết luận: </em></strong>Kiến thức và thái độ của cha mẹ về ô nhiễm không khí trong nhà và sức khỏe còn hạn chế. Cần tăng cường truyền thông tập trung vào các nhóm có hành vi nguy cơ như vị trí nấu ăn gần nơi sinh hoạt chung hoặc có người hút thuốc trong gia đình.</p>Hoàng Thị HuyềnTrần Quỳnh AnhNguyễn Thị Phương OanhĐặng Quang TânTrần Minh Hải
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4387KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN TRƯNG VƯƠNG, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2022-2024
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4388
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả kết quả hoạt động tài chính tại Bệnh viện Trưng Vương thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2022-2024.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang, sử dụng bảng kiểm để thu thập số liệu từ báo cáo tài chính, báo cáo tổng kết hoạt động và báo cáo nhân lực của Bệnh viện Trưng Vương trong các năm 2022-2024; số liệu được tổng hợp, phân tích mô tả theo năm và theo nhóm chỉ tiêu.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tổng thu của bệnh viện tăng từ 419,6 tỷ đồng năm 2022 lên 556,2 tỷ đồng năm 2023 và 649,2 tỷ đồng năm 2024; thu từ hoạt động khám chữa bệnh chiếm khoảng 86-90% tổng thu, trong đó thu khám chữa bệnh bảo hiểm y tế là nguồn thu chủ lực với tỷ trọng trên 70%. Tổng chi thường xuyên tăng từ 419,6 tỷ đồng lên 525,6 tỷ đồng và 621,6 tỷ đồng, chủ yếu cho chi chuyên môn nghiệp vụ (70-73%) và chi cho con người (27-30%). Chênh lệch thu-chi gần cân bằng năm 2022 và đạt khoảng 30 tỷ đồng năm 2023, 27 tỷ đồng năm 2024. Nguồn chênh lệch chủ yếu được sử dụng cho cải cách tiền lương và bổ sung thu nhập, trong khi quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp còn hạn chế.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kết quả hoạt động tài chính của Bệnh viện Trưng Vương giai đoạn 2022-2024 cho thấy xu hướng phục hồi và tăng trưởng cả về thu và chi, chênh lệch thu-chi dương nhưng mức tích lũy cho đầu tư phát triển dài hạn còn khiêm tốn.</p>Thái Hoàng Hạnh NhungPhạm Đình NguyênNguyễn Thu HàHuỳnh Ngọc Hớn
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4388MỘT SỐ YẾU TỐ TIỀN SỬ BỆNH TẬT LIÊN QUAN ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ THUỐC, CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG, VẬN ĐỘNG VÀ TÁI KHÁM Ở NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH NĂM 2024
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4389
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm tiền sử bệnh tật và phân tích mối liên quan giữa yếu tố tiền sử bệnh tật với sự tuân thủ điều trị (thuốc, chế độ ăn uống, vận động, tái khám) ở người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được thực hiện trên 308 người bệnh tăng huyết áp ngoại trú từ tháng 11/2023 đến tháng 10/2024. Số liệu được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi cấu trúc. Các yếu tố tiền sử bệnh tật bao gồm tiền sử gia đình, thời gian mắc bệnh và các bệnh lý đi kèm.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong số 308 người bệnh, 54,2% có tiền sử gia đình mắc tăng huyết áp; 68,2% có thời gian mắc bệnh trên 3 năm; 45,1% mắc các bệnh lý khác kèm theo. Phân tích mối liên quan cho thấy: tiền sử gia đình có người bị tăng huyết áp có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với việc tuân thủ điều trị thuốc (OR = 0,38; p < 0,05), tuân thủ chế độ ăn uống (OR = 0,54; p < 0,05) và tuân thủ chế độ vận động, thể dục thể thao (OR = 0,46; p < 0,05). Chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tiền sử bệnh tật với tuân thủ tái khám.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tiền sử bệnh tật, đặc biệt là tiền sử gia đình, là yếu tố quan trọng liên quan đến thực hành tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp tại Yên Phong. Nhóm người bệnh có tiền sử gia đình mắc tăng huyết áp có xu hướng tuân thủ thấp hơn, gợi ý cần có các biện pháp can thiệp giáo dục sức khỏe chuyên biệt cho nhóm đối tượng này.</p>Phạm Tường VânNguyễn Thị Thùy Dương
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4389HIỆU QUẢ GIẢM Ê BUỐT RĂNG CỦA SILVER DIAMINE FLUORIDE 38% TRÊN NGƯỜI BỆNH CAO TUỔI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂN PHÚ: MỘT NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4390
<p> </p> <p><strong>Mục tiêu: </strong>Bước đầu đánh giá hiệu quả giảm ê buốt của silver diamine fluoride (SDF) 38% trên người bệnh cao tuổi đến khám và điều trị tại Khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Đa khoa Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu thử nghiệm được tiến hành trên 70 răng của 9 người bệnh từ 60 tuổi trở lên đến khám và điều trị ê buốt răng tại Khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Đa khoa Tân Phú từ tháng 4-9 năm 2024. Các thông tin nền và thói quen chăm sóc răng miệng được thu thập thông qua phỏng vấn. Tình trạng ê buốt răng tự cảm nhận được đánh giá thông qua nghiệm pháp thổi hơi và thang đo lường VAS tại thời điểm trước can thiệp, sau can thiệp 1 tuần và sau 3 tháng theo dõi. Mức độ hài lòng và chấp nhận của bệnh nhân với phương pháp SDF cũng được đo lường khi tái khám sau 3 tháng.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trung bình điểm số ê buốt răng giảm có ý nghĩa thống kê từ 8,00 ± 1,41 điểm tại thời điểm ban đầu xuống 3,44 ± 0,88 điểm sau 1 tuần và 2,78 ± 0,97 điểm sau 3 tháng can thiệp (p < 0,001). Điểm số ê buốt răng giảm được lần lượt là 55,8% (sau 1 tuần) và 63,8% (sau 3 tháng). Mức độ hài lòng chung của người bệnh đạt 6,89 ± 0,78 điểm; mức độ chấp nhận tiếp tục sử dụng và giới thiệu cho người khác đạt điểm số cao, lần lượt là 8,11 ± 0,78 điểm và 8,00 ± 0,71 điểm.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>SDF 38% giúp giảm ê buốt răng tức thì và duy trì hiệu quả kéo dài. Đây là giải pháp xâm lấn tối thiểu tiềm năng để kiểm soát quá cảm ngà cho người cao tuổi tại Việt Nam.</p>Đoàn Hồng Tố TrânNguyễn Thị Kim AnhTrần Duy QuânNguyễn Thị Nguyên Hương
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4390KẾT QUẢ PHẪU THUẬT THAI NGOÀI TỬ CUNG LẶP LẠI TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4391
<p><strong>Mục tiêu</strong><strong>:</strong> Nhận xét kết quả phẫu thuật của những bệnh nhân thai ngoài tử cung lặp lại tại vòi tử cung được phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp</strong><strong>: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 168 trường hợp thai ngoài tử cung lặp lại tại vòi tử cung được phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ ngày 1/1/2022-31/12/2024.</p> <p><strong>Kết quả</strong><strong>:</strong> 98,8% bệnh nhân được phẫu thuật nội soi. Cắt vòi tử cung là phương pháp phổ biến nhất (74,4%). Khối thai chủ yếu nằm ở vòi tử cung đối bên (79,8%), chỉ 20,2% là cùng bên lần trước. Khối thai chưa vỡ chiếm 48,8%, rỉ máu chiếm 42,9%, trong khi khối thai đã vỡ chỉ gặp ở 7,7% bệnh nhân. Đa số bệnh nhân mất máu không đáng kể (42,3%), chỉ 2,9% mất máu ≥ 500 ml. Chỉ có 1,2% bệnh nhân gặp tai biến trong mổ (tổn thương bàng quang).</p> <p><strong>Kết luận</strong><strong>:</strong> Phương pháp mổ nội soi thai ngoài tử cung lặp lại chiếm ưu thế, an toàn và đạt hiệu quả cao.</p>Ngô Xuân AnhĐồng Minh PhươngVũ Khánh HuyềnĐỗ Tuấn ĐạtNgô Xuân Khoa
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4391THỰC TRẠNG TIÊM VẮC XIN PHÒNG UNG THƯ CỔ TỬ CUNG Ở HỌC SINH NỮ KHỐI THPT TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC, THCS VÀ THPT CHU VĂN AN PHƯỜNG TÔ HIỆU, TỈNH SƠN LA NĂM 2025 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4392
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng tiêm phòng ung thư cổ tử cung của học sinh nữ khối THPT tại trường Tiểu học, THCS và THPT Chu Văn An năm 2025 và một số yếu tố liên quan<strong><em>. </em></strong></p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu<em>: </em></strong>Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 108 học sinh nữ từ lớp 10-12 tại trường Tiểu học, THCS và THPT Chu Văn An năm 2025 được thu thập qua bộ câu hỏi soạn sẵn.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ tiêm vắc xin phòng ung thư cổ tử cung là 36,1%; trong đó tỷ lệ đã tiêm đủ mũi là 25,9%. Lý do quyết định tiêm phòng phổ biến nhất là để phòng bệnh (76,9%). Lý do khiến đối tượng chưa tiêm phòng là lo ngại phản ứng sau tiêm (34,8%) và điều kiện kinh tế gia đình (30,4%). Có 23,2% chưa biết đến vắc xin phòng bệnh. Trong tương lai có 87% đối tượng sẵn sàng tiêm vắc xin phòng bệnh. Có mối liên quan giữa yếu tố gia đình có bố mẹ là nhân viên y tế với thực trạng tiêm vắc xin phòng ung thư cổ tử cung (p<0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ tiêm vắc xin phòng ung thư cổ tử cung ở đối tượng nghiên cứu chưa cao (36,1%). Do đối tượng lo ngại phản ứng sau tiêm, điều kiện kinh tế gia đình và chưa biết đến vắc xin phòng bệnh. Có mối liên quan giữa yếu tố gia đình có bố mẹ là nhân viên y tế với thực trạng tiêm vắc xin phòng ung thư cổ tử cung.</p>Lê Hoài ThuNguyễn Quỳnh TrangTrần Duy QuangNguyễn Việt QuangTrương Thị Thùy Dương
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4392THỰC TRẠNG SỨC KHỎE, BỆNH TẬT NGƯỜI LAO ĐỘNG MỘT SỐ CÔNG TY SẢN XUẤT VẬT LIỆU NHỰA TẠI HƯNG YÊN NĂM 2024
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4393
<p><strong><em>Mục tiêu</em></strong><strong>:</strong> Mô tả thực trạng sức khỏe, bệnh tật ở người lao động một số công ty sản xuất vật liệu nhựa tại Hưng Yên năm 2024.</p> <p><strong><em>Phương pháp</em></strong><strong>:</strong> <strong>:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 853 người lao động làm việc tại một số công ty sản xuất vật liệu nhựa tại Hưng Yên. Số liệu được thu thập thông qua hồi cứu thông tin trên hồ sơ sức khỏe của người lao động năm 2024.</p> <p><strong><em>Kết quả</em></strong><strong>:</strong> Đa phần người lao động là nam chiếm 78,8% và nhóm tuổi 30-39 chiếm phần lớn 39,3%. Tỷ lệ gầy ở người lao động chiếm 6,9%; thừa cân béo phì chiếm 40,9%; người lao động đạt sức khỏe loại loại I và loại II chiếm 70,4%, sức khỏe loại IV và V lần lượt là 7,3% và 0,8% tỷ lệ mắc các bệnh đường tiêu hóa, tai mũi họng, nội tiết chiếm tỷ lệ cao lần lượt là 53,5%, 49,5% và 49,5%. Người lao động mắc 2 bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất là 30,7% và có sự khác biệt giữa số bệnh mắc giữa lao động nam và nữ với p<0,05. Có mối liên quan giữa giới tính nam, tuổi > 50 với tỷ lệ mắc sức khỏe, bệnh tật không tốt với p<0,05. Người lao động thừa cân, béo phì có nguy cơ mắc từ 3 bệnh trở lên cao hơn với p<0,05.</p> <p><strong><em>Kết luận</em></strong><strong>:</strong> Sức khỏe, bệnh tật của người lao động sản xuất vật liệu nhựa tại Hưng Yên chưa tốt, tỷ lệ mắc bệnh đường tiêu hóa, tai mũi họng và rối loạn nội tiết, sức khỏe yếu còn cao cùng tình trạng đa bệnh lý và sức khỏe giảm rõ rệt ở nhóm nam giới, tuổi trên 50 và thừa cân, béo phì.</p>Lê Thị Thanh HoaNguyễn Thanh Ngọc LinhNguyễn Tuấn AnhTrương Thị Thùy Dương
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4393ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ PHÒNG TỤT HUYẾT ÁP CỦA CÁC LIỀU NORADRENALIN VÀ CÁC TÁC ĐỘNG LÊN TRẺ SƠ SINH TRONG GÂY TÊ TỦY SỐNG MỔ LẤY THAI TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4394
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá hiệu quả dự phòng tụt huyết áp trong gây tê tuỷ sống mổ lấy thai và các tác động lên trẻ sơ sinh khi dùng Noradrenalin truyền tĩnh mạch dự phòng tụt huyết áp với các liều khác nhau.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> gồm 90 sản phụ trên 18 tuổi, đơn thai, đủ tháng, không có chống chỉ định gây tê tủy sống để mổ lấy thai được chia ngẫu nhiên làm ba nhóm nhận ba liều noradrenalin truyền tĩnh mạch dự phòng tụt huyết áp sau tê tủy sống là 0,025μg/kg/phút; 0,05μg/kg/phút và 0,075 μg/kg/phút.</p> <p><strong>Các tiêu chí đánh giá chính gồm: </strong>Tỷ lệ tụt huyết áp; tỷ lệ tăng huyết áp; tần số tim chậm; tỷ lệ buồn nôn và nôn; điểm Apgar sau 1phút và 5 phút khí máu động mạch cuống rốn.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ tụt huyết áp ở nhóm 0,05 μg/kg/phút (16.6%) và nhóm 0,075μg/kg/phút (13.3%) thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm 0,025 μg/kg/phút (39.9%) (p < 0,05). Tỷ lệ tăng huyết áp ở nhóm liều 0,075 μg/kg/phút là 3.3% (n=1) tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với 2 nhóm còn lại. Tỷ lệ tần số tim chậm, buồn nôn và nôn ở mẹ, điểm Apgar sau 1 và 5 phút, kết quả xét nghiệm khí máu động mạch cuống rốn là không có sự khác biệt nhau giữa ba nhóm (p>0,05). không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm sản phụ sử dụng các liều noradrenalin khác nhau để dự phòng tụt huyết áp sau gây tê tủy sống mổ lấy thai<strong><em>.</em></strong></p> <p><strong>Kết luận</strong>: Hai liều truyền tĩnh mạch noradrenalin 0,05 μg/kg/phútvà 0,075 μg/kg/phút có hiệu quả làm giảm tỷ lệ tụt huyết áp sau gây tê tủy sống trong mổ lấy thai. Liều 0,075μg/kg/phút có thể gây tăng huyết áp. Không có sự khác biệt về tỷ lệ tần số tim chậm, buồn nôn và nôn, kết quả điểm Apgar trên trẻ sơ sinh, kết quả xét nghiệm khí máu động mạch cuống rốn giữa ba nhóm nghiên cứu.</p>Phạm Thị Anh TúĐào Văn TùngBùi Văn Tùng
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4394ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG THỰC HIỆN THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI: TIẾP CẬN TỪ MÔ HÌNH CHĂM SÓC LẤY NGƯỜI BỆNH LÀM TRUNG TÂM
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4395
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Sự hài lòng của người bệnh là chỉ số quan trọng phản ánh chất lượng dịch vụ y tế, đặc biệt trong lĩnh vực điều trị hiếm muộn – nơi chi phí cao và áp lực tâm lý lớn. Nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ hài lòng và các yếu tố liên quan tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản và Công nghệ Mô ghép (HTSS&CNMG), Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 130 khách hàng nữ đang thực hiện ch u kỳ thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON/IVF) từ tháng 05/2025 đến tháng 07/2025. Số liệu được thu thập qua bộ câu hỏi cấu trúc dựa trên thang đo PCQ-Infertility và khung đánh giá của WHO, thang đo Likert 5 điểm.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Đối tượng nghiên cứu có độ tuổi trung bình 32 ± 5,2; phần lớn có trình độ Đại học/Sau đại học (92,31%). Tổng điểm hài lòng trung bình chung đạt 21,1 ± 3,06 trên thang 25. Khách hàng hài lòng nhất về "Kết quả cảm nhận" (4,47 ± 0,25) và thấp nhất về "Chi phí điều trị" (3,9 ± 0,69). Phân tích hồi quy đa biến sau khi kiểm soát các biến nhiễu cho thấy trình độ học vấn và thu nhập bình quân hàng tháng có mối liên quan nghịch nhẹ với điểm hài lòng (p < 0,05), cho thấy nhóm khách hàng trí thức và thu nhập cao có kỳ vọng khắt khe hơn. Các yếu tố khác như thời gian vô sinh và tuổi không có ý nghĩa thống kê trong mô hình đa biến (p > 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Chất lượng dịch vụ TTTON được đánh giá cao, đặc biệt là niềm tin vào chuyên môn và thái độ nhân viên y tế. Tuy nhiên, cần cải thiện quy trình tư vấn tài chính và tính liên tục trong điều phối chăm sóc để tối ưu hóa trải nghiệm người bệnh.</p>Hoàng Thị Hải AnhNguyễn Phúc Hoàn
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4395THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ RÀO CẢN LIÊN QUAN ĐẾN ỨNG DỤNG Y HỌC CHỨNG CỨ CỦA BÁC SĨ TẠI KHOA KHÁM BỆNH BỆNH VIỆN LÊ VĂN THỊNH
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4396
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát tần suất ứng dụng y học chứng cứ (YHCC) và xác định các yếu tố liên quan đến mức ứng dụng YHCC của bác sĩ tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Lê Văn Thịnh.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu quan sát cắt ngang được thực hiện trên toàn bộ bác sĩ làm việc tại Khoa Khám bệnh (N=160). Dữ liệu thu thập bằng bảng câu hỏi tự trả lời đã được kiểm định độ tin cậy (Cronbach’s alpha > 0,88). Mức ứng dụng YHCC được đánh giá dựa trên tần suất thực hiện 5 bước của quy trình YHCC. Các yếu tố liên quan được phân tích bằng mô hình hồi quy logistic đa biến với lựa chọn biến theo AIC.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ bác sĩ ứng dụng YHCC ở mức cao đạt 45,63% và mức thấp đạt 54,38%. Mô hình hồi quy xác định hai yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê bao gồm bác sĩ làm việc bán thời gian có khả năng ứng dụng YHCC thấp hơn đáng kể (OR = 0,12; p = 0,022), và rào cản cá nhân có liên quan nghịch chiều với mức ứng dụng (OR = 0,32; p = 0,024).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> YHCC đã được đưa vào thực hành nhưng mới dừng ở mức độ chưa thường quy. Thực hành YHCC chủ yếu chịu ảnh hưởng bởi rào cản cá nhân và mức độ hội nhập tổ chức hơn là các đặc điểm nhân khẩu học. Cần triển khai đồng thời các giải pháp nâng cao năng lực YHCC cho bác sĩ và cải thiện điều kiện hỗ trợ tại nơi làm việc, với trọng tâm vào nhóm bác sĩ làm việc bán thời gian.</p>Trần Xuân AnPhạm Gia ThếNguyễn Trọng ThuNguyễn Thị Ngọc TrinhTrần Đức Sĩ
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4396KHẢO SÁT NHU CẦU VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC TRAO ĐỔI HỌC TẬP TẠI NƯỚC NGOÀI CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC, ĐẠI HỌC HUẾ
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4397
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát nhu cầu trao đổi học tập tại nước ngoài của sinh viên Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế và xác định các yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 403 sinh viên Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế, sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0, phân tích bằng kiểm định Chi-square và tính OR với khoảng tin cậy 95%.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ sinh viên có nhu cầu tham gia chương trình trao đổi tại nước ngoài là 40,2%. Rào cản lớn nhất là chi phí sinh hoạt (90,6%), rào cản ngôn ngữ - văn hóa (75,2%) và việc xa gia đình (48,6%). Các yếu tố có liên quan có ý nghĩa thống kê gồm rời xa gia đình, thiếu thông tin chương trình và thủ tục phức tạp.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Nhu cầu trao đổi học tập quốc tế của sinh viên còn hạn chế, chủ yếu do rào cản tài chính, thông tin và ngôn ngữ. Cần tăng cường truyền thông, hỗ trợ học bổng và nâng cao năng lực ngoại ngữ để mở rộng cơ hội tham gia cho sinh viên.</p>Hồ Lê Minh TâmĐặng Minh HuyTrần Thị Bảo LinhHoàng Thị Thanh NhạnNguyễn Thị Anh Phương
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4397THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ CỦA SINH VIÊN NGÀNH BÁC SĨ Y HỌC DỰ PHÒNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC, ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4398
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả thực trạng chất lượng giấc ngủ của sinh viên ngành Bác sĩ Y học dự phòng tại Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên và một số yếu tố liên quan<strong>.</strong></p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 311 sinh viên từ năm nhất đến năm cuối của ngành Bác sĩ Y học dự phòng tại trường Đại học <br>Y - Dược, Đại học Thái Nguyên năm 2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Nghiên cứu kết quả cho thấy, tỉ lệ chất lượng giấc ngủ kém của sinh viên chiếm 75,9% (PSQI > 5). Có mối liên quan chặt chẽ giữa áp lực gia đình và áp lực công việc học tập với thực trạng chất lượng giấc ngủ của sinh viên (p < 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tỉ lệ chất lượng giấc ngủ kém của sinh viên chiếm khá cao (75,9%). Do vậy cần quan tâm hơn nữa đến vấn đề này để đảm bảo chất lượng học tập. Sinh viên cần có kế hoạch học tập và sinh hoạt. Gia đình cần có sự quan tâm hơn nữa đến đời sống tinh thần và vật chất để sinh viên yên tâm học tập.</p> <p> </p> <p> </p>Hồ Anh TuấnLê Hoài ThuTrương Thị Thùy Dương
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4398TÁC DỤNG CẢI THIỆN HỘI CHỨNG RỄ CỦA TAM TÝ THANG KẾT HỢP KÉO GIÃN CỘT SỐNG TRONG ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG THẮT LƯNG HÔNG DO THOÁI HÓA CỘT SỐNG
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4399
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá tác dụng cải thiện hội chứng rễ của Tam tý thang kết hợp kéo giãn cột sống trong điều trị hội chứng thắt lưng hông do thoái hóa cột sống.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu can thiệp lâm sàng mở, tiến cứu, so sánh trước sau điều trị. 60 bệnh nhân trong nghiên cứu được sử dụng Tam tý thang kết hợp kéo giãn cột sống.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Sau 20 ngày điều trị, điểm đau VAS trung bình giảm từ 5,63 ± 1,08 điểm xuống 1,27 ± 0,86 điểm, sự khác biệt so với trước điều trị có ý nghĩa thống kê (p < 0,05); điểm Lasègue trung bình tăng từ 55,65 ± 5,18 độ lên 79,30 ± 5,69 độ, sự khác biệt so với trước điều trị có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tam tý thang kết hợp kéo giãn cột sống có tác giảm đau và cải thiện hội chứng rễ trong điều trị hội chứng thắt lưng hông do thoái hóa cột sống.</p>Mai Đức HânPhạm Ngọc HàNguyễn Trung AnhNguyễn Thị Ngọc ÁnhTrần Thanh PhươngLưu Thị Trang NgânĐặng Quang Khánh
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4399THỰC TRẠNG ĐỊNH HƯỚNG VIỆC LÀM SAU KHI TỐT NGHIỆP Ở SINH VIÊN NĂM CUỐI NGÀNH BÁC SĨ Y HỌC DỰ PHÒNG CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC, ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN NĂM 2025
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4400
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng định hướng việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên cuối ngành Bác sĩ Y học dự phòng, Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên năm 2025.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính được thực hiện trên 70 sinh viên từ năm cuối của ngành Bác sĩ Y học dự phòng tại trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên năm 2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ sinh viên chưa có định hướng việc làm sau khi tốt nghiệp là 44,3%. Sinh viên có xu hướng lựa chọn làm việc đúng chuyên môn được đào tạo còn chưa cao (61,4%) và ưu tiên các cơ sở Trung tâm Kiểm soát bệnh tật, Trung tâm Y tế, Trạm Y tế (45,7%). Tiêu chí được sinh viên quan tâm hàng đầu khi lựa chọn nơi làm việc là môi trường làm việc tốt (67,1%), lương cao (64,3%) và có cơ hội phát triển chuyên môn (50,0%). Sinh viên mong muốn nhận được định hướng việc làm từ gia đình, người thân (57,1%), từ Nhà trường (28,6%).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ sinh viên chưa có định hướng việc làm sau khi tốt nghiệp còn cao. Sinh viên có xu hướng chọn việc làm đúng chuyên môn vẫn còn thấp. Sinh viên mong muốn nhận được thêm sự định hướng việc làm từ gia đình và Nhà trường. Cần có sự quan tâm hơn nữa từ cố vấn học tập và khoa Y tế công cộng trực tiếp quản lý sinh viên.</p>Trần Thùy LinhLê Hoài ThuNguyễn Việt Quang
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4400NHẬN XÉT KẾT QUẢ MỔ LẤY THAI VÌ ĐẦU KHÔNG LỌT TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4401
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Nhận xét kết quả mổ lấy thai vì đầu không lọt tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> 218 sản phụ mổ lấy thai vì đầu không lọt trong 6 tháng đầu năm 2024 tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi thai 37 đến dưới 40 tuần chiếm 64,2%, trong đó con so chiếm 59,6% và con rạ chiếm 4,6%. Tuổi thai 40 đến dưới 42 tuần chiếm 35,8%, trong đó con so 31,7% và con rạ 4,1%. Trẻ có cân nặng 3000 đến dưới 3500 gam chiếm đa số với 59,6%, trong đó con so 55%, con rạ 4,6%. Trong tất cả 218 trường hợp, chỉ số Apgar của trẻ ở phút thứ 1 và phút thứ 5 đều > 7. Đa số sản phụ được mổ lấy thai trong khoảng 60-90 phút sau khi cổ tử cung mở hết (93,1%). Phần lớn sản phụ được mổ trong vòng dưới 6 giờ sau ối vỡ (64,2%), tiếp theo là 6-12 giờ (21,1%) và trên 12 giờ chỉ 14,7%. Trong tổng số 218 bệnh nhân mổ lấy thai của nghiên cứu, 16 bệnh nhân có tai biến, biến chứng gồm: rách mép vết mổ cơ tử cung (5,5%); chảy máu diện rau bám (0,9%); khâu vào niệu quản (0,5%) và nhiễm trùng vết mổ (0,5%).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Đa số các trường hợp được mổ vào thời điểm phù hợp, giảm thiểu tối đa các nguy cơ tai biến và biến chứng.</p>Ngô Xuân AnhLương Tuấn MạnhVũ Khánh HuyềnNguyễn Tuấn Minh
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4401TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG NĂM 2024
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4402
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan ở người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng năm 2024.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 350 người bệnh tăng huyết áp được quản lý ngoại trú. Tuân thủ dùng thuốc được đánh giá bằng thang Morisky Medication Adherence Scale 8 câu (MMAS-8); người bệnh được xem là tuân thủ khi đạt điểm MMAS-8 ≥6. Tuân thủ điều trị chung được xác định khi người bệnh đạt từ 4/5 tiêu chí điều trị gồm dùng thuốc và các thay đổi lối sống.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ đạt tuân thủ điều trị chung 56,6%. Tuân thủ dùng thuốc đạt 47,42%, tuân thủ chế độ ăn; không hút thuốc lá, hạn chế rượu bia; theo dõi huyết áp và vận động thể lực lần lượt là 83,14%; 59,14%; 83,71% và 12,0%. Sau phân tích đa biến, các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị gồm: giới tính nữ (OR<sub>HC</sub>= 1,62), không có bệnh đồng mắc (OR<sub>HC</sub>=1,84); tuổi cao (OR<sub>HC</sub>=0,74), thời gian tăng huyết áp kéo dài (OR<sub>HC</sub>= 0,63) làm giảm tỷ lệ tuân thủ.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tuân thủ điều trị chung ở mức trung bình, tuân thủ dùng thuốc và vận động thể lực còn thấp. Nam giới, tuổi cao và thời gian mắc bệnh dài là các nhóm cần được ưu tiên can thiệp để cải thiện tuân thủ điều trị.</p>Huỳnh Ngọc LinhLiêu Quành ĐaTrần Thế HùngNguyễn Ngọc ThểNguyễn Minh Phụng
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4402ĐÁNH GIÁ CỦA ĐIỀU DƯỠNG VỀ PHONG CÁCH VÀ HIỆU QUẢ LÃNH ĐẠO CỦA CẤP TRÊN
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4403
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đánh giá của điều dưỡng về phong cách và hiệu quả lãnh đạo của cấp quản lý trực tiếp.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 317 điều dưỡng đang theo học chương trình chuyên khoa 1 tại trường Đại học Điều dưỡng Nam Định. Số liệu được thu thập từ tháng 2 đến tháng 3 năm 2023 bằng bộ công cụ tự điền Multifactor Leadership Questionnaire – 5X. <strong>Kết quả:</strong> Nhân viên điều dưỡng ghi nhận phong cách lãnh đạo bằng Phần thưởng theo điều kiện (3,90 ± 0,73), Kích thích tư duy (3,84 ± 0,76) và Là hình mẫu ảnh hưởng (3,81 ± 0,73) được lãnh đạo sử dụng phổ biến nhất; trong khi Lãnh đạo buông lỏng (2,30 ± 0,83) và Quản lý thụ động (2,48 ± 0,78) ít gặp hơn. Cấp trên cũng được đánh giá là làm việc có hiệu quả và có tác động tích cực đến nỗ lực cũng như sự hài lòng của nhân viên.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Lãnh đạo điều dưỡng hiện nay được đánh giá chủ yếu sử dụng các phong cách chủ động và tích cực, góp phần nâng cao động lực làm việc và chất lượng hoạt động chuyên môn.</p>Nguyễn Hoàng LongNguyễn Thị Minh Chính
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4403TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA TRẺ EM BỊ NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THỦY NGUYÊN, HẢI PHÒNG
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4404
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và mô tả một số yếu tố liên quan đến dinh dưỡng ở trẻ em từ 6-59 tháng tuổi bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Thuỷ Nguyên năm 2024 – 2025.</p> <p><strong>Phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong số 240 trẻ tham gia nghiên cứu, nhóm tuổi 1–<2 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (29,6%), tiếp đến là nhóm 2–<3 tuổi (25,0%). Tỷ lệ trẻ nam là 54,4%. Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC) nhập viện ở mức độ trung bình (87,0%), nặng chiếm 11,7% và nhẹ chỉ 1,3%. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ cho thấy tỷ lệ nhẹ cân chiếm 14,6%, thấp còi 23,8% , gầy còm 12,1% và thừa cân béo phì là 36,2%. Nghiên cứu tìm thấy một số yếu tố liên quan với tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ NKHHC như tuổi thai < 38 tuần (OR = 3,68; 95%CI: 1,45 – 9,37); nơi ở tại các xã miền núi (OR=5,83; 95%CI: 2,25 – 10,12); Thời điểm ăn bổ sung sớm <6 tháng (OR = 2,2; 95%CI: 1,2 – 3,6), với p<0,05. .</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp có tỷ lệ suy dinh dưỡng và thừa cân – béo phì khá cao, cần đặc biệt quan tâm chăm sóc cả về lâm sàng và dinh dưỡng đối với những trẻ này.</p> <p> </p>Bùi Thị MinhLê Văn CơLê Thị HươngTạ Thị TươiĐỗ Nam KhánhPhùng Lâm TớiDương Thị Phượng
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4404TỈ LỆ Ô NHIỄM VI KHUẨN TRÊN BỀ MẶT SMARTPHONE CỦA BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4405
<p><strong>Mục tiêu: </strong><em>Khảo sát tỷ lệ nhiễm vi khuẩn và đặc điểm các loại vi khuẩn phân lập được từ bề mặt smartphone của bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Trường Đại học Trà Vinh.</em></p> <p><strong>Đối tượng – phương pháp: </strong><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 61 bệnh nhân ngoại trú tại khu khám bệnh Bệnh viện Trường Đại học Trà Vinh trong 10 tuần (10–12/2022). Cỡ mẫu 61, chọn mẫu thuận tiện. Vi khuẩn được lấy từ màn hình cảm ứng và bề mặt sau smartphone bằng tăm bông vô trùng, nuôi cấy và định danh bằng các trắc nghiệm sinh hóa. Phân tích số liệu bằng STATA 17.0 với các kiểm định Chi bình phương, Fisher và tỉ số hiện mắc (PR).</em></p> <p><strong>Kết quả: </strong><em>100% (61/61) smartphone bị nhiễm vi khuẩn. Vi khuẩn Gram dương chiếm ưu thế ở cả hai bề mặt. Bacillus sp (91,8% màn hình cảm ứng; 93,44% bề mặt sau) và Staphylococci âm tính coagulase (CoNS) (60,66%; 49,18%) là các chủng phổ biến nhất. Bề mặt sau có tỷ lệ nhiễm vi khuẩn Gram âm cao hơn (63,93%), bao gồm E. coli và Pseudomonas sp. Vệ sinh smartphone làm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn màn hình cảm ứng (PR=0,64; KTC 95%: 0,52–0,79; p=0,018), trong khi tần suất làm sạch hằng tuần/hằng tháng làm tăng nguy cơ đa nhiễm. Vệ sinh tay giúp giảm nguy cơ nhiễm khuẩn bề mặt sau (PR=0,81; KTC 95%: 0,70–0,94; p=0,041).</em></p> <p><strong>Kết luận: </strong><em>Smartphone của bệnh nhân ngoại trú là nguồn chứa vi khuẩn tiềm tàng, đặc biệt ở bề mặt sau. Cần tăng cường vệ sinh smartphone kết hợp vệ sinh tay đúng cách để hạn chế lây lan vi khuẩn.</em></p>Huỳnh Phương DuyNgô Anh DuyVõ Thị Huỳnh Nhi
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4405ĐẶC ĐIỂM VÙNG GIÁP RANH VÀ TỔN THƯƠNG TRÊN CHUỖI XUNG TƯỚI MÁU NÃO CỘNG HƯỞNG TỪ THEO VỊ TRÍ TẮC MẠCH LỚN TRONG ĐỘT QUỴ THIẾU MÁU NÃO CẤP
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4406
<p><strong>Mục tiêu</strong>: Nghiên cứu nhằm mục tiêu mô tả đặc điểm tưới máu trên chuỗi xung ASL ở bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp có tắc mạch lớn theo vị trí tắc mạch.</p> <p> </p> <p><strong>Đối tượng và Phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 55 bệnh nhân có tắc mạch lớn được chụp MRI cấp cứu, bao gồm DWI, TOF 3D và ASL. Thể tích lõi nhồi máu, vùng giáp ranh và vùng tổn thương trên ASL được so sánh giữa các vị trí tắc bằng kiểm định Kruskal–Wallis. Đồng thời tính các tỷ lệ vùng giáp ranh/lõi và vùng tổn thương trên ASL/lõi nhằm đánh giá mức độ lan rộng của giảm tưới máu.</p> <p> </p> <p><strong>Kết quả</strong>: Thể tích lõi nhồi máu không khác biệt giữa các vị trí tắc (p = 0,453). Ngược lại, vùng giáp ranh khác biệt có ý nghĩa, lớn nhất ở tắc ĐM cảnh trong (ICA) và kết hợp ĐM cảnh trong + ĐM não giữa (ICA+MCA) và thấp nhất ở tắc ĐM não giữa (p = 0,030). Vùng giảm tưới máu trên ASL có xu hướng khác biệt (p = 0,052). Các tỷ lệ vùng giáp ranh/lõi và vùng tổn thương ASL/lõi khác biệt rõ rệt giữa các nhóm (p = 0,018 và 0,021), phản ánh mức độ mismatch lớn hơn ở tắc đoạn gần so với tắc ĐM não giữa.</p> <p> </p> <p><strong>Kết luận</strong>: ASL cho thấy khả năng phân biệt mức độ giảm tưới máu theo vị trí tắc là phương pháp hữu ích trong đánh giá tưới máu và xác định vùng mô còn khả năng cứu được mà không cần dùng thuốc đối quang từ.</p>Nguyễn Thị Hồng LươngLê Thị HòaTrần Quang TrungLê Tuấn LinhHoàng Đình Âu
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4406KẾT QUẢ CAN THIỆP CHO TRẺ BỊ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ TẠI BỆNH VIỆN LÃO KHOA – PHỤC HỒI CHỨC NĂNG QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2023-2024
http://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4517
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá kết quả can thiệp cho trẻ bị rối loạn phổ tự kỷ tại Bệnh viện Lão khoa – Phục hồi chức năng Quảng Ninh giai đoạn 2023-2024.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu được tiến hành với thiết kế can thiệp so sánh trước sau nhằm đánh giá kết quả can thiệp trên 48 trẻ từ 24 đến 72 tháng tuổi bị mắc rối loạn phổ tự kỷ tại Bệnh viện Lão khoa - Phục hồi chức năng tỉnh Quảng Ninh.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Sau 3 tháng có 3/15 lĩnh vực đã có cải thiện đó là bắt chước, giao tiếp bằng lời, giao tiếp không lời (p< 0,05). Sau can thiệp 6 tháng có thêm 5 lĩnh vực được cải thiện có ý nghĩa thống kê (p<0,05) đó là quan hệ với mọi người, động tác cơ thể, phản ứng thị giác, ấn tượng chung về tự kỷ. Có một số sự cải thiện có ý nghĩa đối với các kỹ năng tương tác xã hội (p<0,05) nhưng không có sự cải thiện có ý nghĩa trong hành vi định hình-rập khuôn (p> 0,05).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Can thiệp đa mô thức cho thấy hiệu quả tích cực trong việc cải thiện một số kỹ năng ở trẻ rối loạn phổ tự kỷ từ 24 đến 72 tháng tuổi. Tuy nhiên, cần có thêm thời gian và chiến lược can thiệp chuyên sâu hơn đối với những lĩnh vực khó cải thiện.</p>Nguyễn Thị Khánh HuyềnNguyễn Phương SinhLê Thị Kim DungNguyễn Thị Thu Hà
Copyright (c) 2026
2026-03-022026-03-0267210.52163/yhc.v67i2.4517