ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ MÔ BỆNH HỌC CỦA BỆNH UNG THƯ HẮC TỐ DA TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG GIAI ĐOẠN 2020-2026

Đỗ Thị Như Hoa1, Vũ Thái Hà2, Nguyễn Hữu Quang2
1 Trung tâm Giám định Y khoa và Pháp y tỉnh Tuyên Quang
2 Bệnh viện Da liễu Trung ương

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả các đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học của ung thư hắc tố da và khảo sát một số mối liên quan ở người bệnh điều trị da tại Bệnh viện Da liễu Trung ương giai đoạn 2020-2026.


Đối tượng: 71 trường hợp bệnh nhân đã được chẩn đoán ung thư hắc tố da tại Bệnh viện Da Liễu Trung ương giai đoạn 2020-2026.


Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, hồi cứu.


Kết quả: Tuổi trung bình của người bệnh là 60,1 ± 15,3; nhóm 60-79 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (51,4%). Nữ chiếm 56,3%. Trong các trường hợp có ghi nhận thời gian diễn biến, nhóm 1-5 năm gặp nhiều nhất (28,2%). Dát tăng sắc tố to lên là triệu chứng khởi phát thường gặp nhất (57,7%). Tổn thương tập trung chủ yếu ở bàn chân và đơn vị móng chân (90,1%). Loét lâm sàng ghi nhận ở 70,4% trường hợp. Thể đầu chi chiếm ưu thế trong mô bệnh học (94,4%). Độ dày Breslow được xác định ở 62 trường hợp với nhóm 1,01-2,0 mm thường gặp nhất (32,3%). Di căn hạch trên mô bệnh học tại thời điểm chẩn đoán gặp ở 11,3%. Trong 66 trường hợp có phân giai đoạn, giai đoạn II chiếm tỷ lệ cao nhất (45,4%). Nhóm có Breslow > 2,0 mm có tỷ lệ loét lâm sàng và loét mô học cao hơn rõ rệt so với nhóm Breslow ≤ 2,0 mm. Dấu ấn miễn dịch HMB45 chiếm số lượng cao nhất với tỷ lệ dương tính 54,9%.


Kết luận: Ung thư hắc tố da trong nhóm nghiên cứu chủ yếu gặp ở người lớn tuổi và có ưu thế rõ ở vùng đầu chi, đặc biệt là gan chân, gót chân và ngón chân. Độ dày Breslow lớn hơn có liên quan với tình trạng loét trên lâm sàng và mô bệnh học tại thời điểm chẩn đoán.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Ferlay J, Ervik M et al (International Agency for Research on Cancer). Global cancer observatory: cancer today. Lyon, France, 2020. https://gco.iarc.who.int/today/en
[2] Gershenwald J.E, Scolyer R.A et al. Melanoma staging: evidence-based changes in the American Joint Committee on Cancer eighth edition cancer staging manual. CA Cancer J Clin, 2017, 67 (6): 472-492. doi: 10.3322/caac.21409
[3] Keung E.Z, Gershenwald J.E. The eighth edition American Joint Committee on Cancer (AJCC) melanoma staging system: implications for melanoma treatment and care. Expert Rev Anticancer Ther, 2018, 18 (8): 775-784. doi: 10.1080/14737140.2018.1489246
[4] Chi Z, Li S et al. Malignant melanoma in Chinese patients: clinical, histologic and prognostic features. BMC Cancer, 2011, 11: 85.
[5] Fujisawa Y, Yoshikawa S et al. Clinical and histopathological characteristics and survival analysis of 4594 Japanese patients with melanoma. Cancer Med, 2019, 8 (5): 2146-2156. doi: 10.1002/cam4.2110
[6] Chang J.W.C. Cutaneous melanoma: Taiwan experience and literature review. Chang Gung Med J, 2010, 33 (6): 602-612.
[7] Chang J.W.C. Acral melanoma: a unique disease in Asia. JAMA Dermatol, 2013, 149 (11): 1272. doi: 10.1001/jamadermatol.2013.5941
[8] Sheen Y.S, Liao Y.H et al. A clinicopathological analysis of 153 acral melanomas and the relevance of mechanical stress. Sci Rep, 2017, 7 (1): 5564. doi: 10.1038/s41598-017-05809-9
[9] Bùi Thanh Sơn, Phạm Thị Lan, Phạm Đình Hòa. Đặc điểm mô bệnh học và hóa mô miễn dịch trên bệnh nhân ung thư tế bào hắc tố da. Tạp chí Y học Việt Nam, 2017, 456 (1): 127-131.
[10] Breslow A. Thickness, cross-sectional areas and depth of invasion in the prognosis of cutaneous melanoma. Ann Surg, 1970, 172 (5): 902-908.
[11] Balch C.M, Soong S.J et al. Prognostic factors analysis of 17,600 melanoma patients: Validation of the AJCC melanoma staging system. J Clin Oncol, 2001, 19 (16): 3622-3634.
[12] Bray F, Ferlay J et al. Global cancer statistics 2018: GLOBOCAN estimates of incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185 countries. CA Cancer J Clin, 2018, 68 (6): 394-424. doi: 10.3322/caac.21492
[13] Balch C.M, Gershenwald J.E et al. Final version of 2009 AJCC melanoma staging and classification. J Clin Oncol Off J Am Soc Clin Oncol, 2009, 27 (36): 6199-6206. doi: 10.1200/JCO.2009.23.4799