PHÂN BỐ LOÀI DERMATOPHYTES GÂY NẤM MÓNG VÀ GIÁ TRỊ ĐỊNH DANH BẰNG MALDI-TOF MS, GIẢI TRÌNH TỰ SANGER
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Nấm móng là bệnh nhiễm nấm thường gặp, trong đó dermatophytes là nhóm căn nguyên quan trọng. Định danh chính xác loài nấm gây bệnh có ý nghĩa trong chẩn đoán căn nguyên, định hướng điều trị và theo dõi dịch tễ học. Nghiên cứu này nhằm xác định phân bố các loài dermatophytes gây nấm móng tại Bệnh viện Da liễu Trung ương bằng phương pháp thường quy kết hợp MALDI-TOF MS và giải trình tự Sanger. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 149 bệnh nhân được chẩn đoán nấm móng tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 8/2022 đến tháng 8/2023. Bệnh phẩm móng được soi trực tiếp, nuôi cấy và định danh nấm sợi bằng phương pháp thường quy dựa trên đặc điểm hình thái, kết hợp MALDI-TOF MS và giải trình tự Sanger . Kết quả: Tỷ lệ nuôi cấy dương tính với nấm sợi dermatophytes là 26,2% (39/149 mẫu). Phương pháp thường quy định danh được 27/39 chủng đến mức loài, chiếm 69,2%; 12 chủng còn lại chỉ định danh được đến mức chi. MALDI-TOF MS được thực hiện trên 12 chủng này và định danh bổ sung được 9/12 chủng đến mức loài, gồm T. rubrum 4 chủng, T. tonsurans 3 chủng, T. interdigitale 1 chủng và M. canis 1 chủng; 3 chủng còn lại chỉ định danh được ở mức chi Trichophyton. Theo kết quả giải trình tự Sanger, chi Trichophyton chiếm ưu thế với 36/39 chủng (92,3%), trong khi chi Microsporum chiếm 3/39 chủng (7,7%). Hai loài thường gặp nhất là T. rubrum với 16/39 chủng (41,0%) và T. tonsurans với 15/39 chủng (38,5%). Kết luận: Chi Trichophyton là căn nguyên nấm sợi chủ yếu gây nấm móng, trong đó T. rubrum và T. tonsurans là hai loài chiếm tỷ lệ cao nhất. Việc kết hợp phương pháp thường quy với MALDI-TOF MS và giải trình tự Sanger giúp định danh chính xác loài dermatophytes, góp phần hỗ trợ chẩn đoán căn nguyên và định hướng điều trị nấm móng.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Nấm móng, nấm sợi, Trichophyton, Microsporum, MALDI-TOF MS, giải trình tự Sanger
Tài liệu tham khảo
[2] Leung AKC, Lam JM, Leong KF, et al. Onychomycosis: An Updated Review. Recent Pat Inflamm Allergy Drug Discov. 2020;14(1):32-45. doi:10.2174/1872213X13666191026090713
[3] Theel ES, Hall L, Mandrekar J, Wengenack NL. Dermatophyte Identification Using Matrix-Assisted Laser Desorption Ionization–Time of Flight Mass Spectrometry. J Clin Microbiol. 2011;49(12):4067-4071. doi:10.1128/JCM.01280-11
[4] Piraccini B, Alessandrini A. Onychomycosis: A Review. J Fungi. 2015;1(1):30-43. doi:10.3390/jof1010030
[5] Hay RJ, Baran R. Onychomycosis: A proposed revision of the clinical classification. J Am Acad Dermatol. 2011;65(6):1219-1227. doi:10.1016/j.jaad.2010.09.730
[6] Hoàng Hồng Mạnh, Trần Cẩm Vân, and Nguyễn Thị Hà Vinh. "Đặc điểm sinh học của chủng nấm sợi gây bệnh nấm móng." Tạp chí Y học Việt Nam 535.1 (2024).
[7] L’Ollivier C, Ranque S. MALDI-TOF-Based Dermatophyte Identification. Mycopathologia. 2017;182(1-2):183-192. doi:10.1007/s11046-016-0080-x
[8] Crozier WJ, Lavrin LM. An uncommon case of onychomycosis due to Microsporum canis. Australas J Dermatol. 1979;20(3):144-146. doi:10.1111/j.1440-0960.1979.tb00225.x
[9] André J, De Doncker P, Laporte M, et al. Onychomycosis caused by Microsporum canis: Treatment with itraconazole. J Am Acad Dermatol. 1995;32(6):1052-1053. doi:10.1016/0190-9622(95)91361-0
[10] Martínez E, Ameen M, Tejada D, Arenas R. Microsporum spp. onychomycosis: disease presentation, risk factors and treatment responses in an urban population. Braz J Infect Dis. 2013;18(2):181-186. doi:10.1016/j.bjid.2013.08.005
[11] Julie Zafindraibe N, Mireille FA, Rakotoarivelo ZH, et al. Onychomycosis: experience of the laboratory of parasitology-mycology of CHU-Joseph Ravoahangy Andrianavalona, Antananarivo, Madagascar. Pan Afr Med J. 2021;40. doi:10.11604/pamj.2021.40.176.25216
[12] Wu SX, Guo NR, Li XF, et al. Human Pathogenic Fungi in China-Emerging Trends from Ongoing National Survey for 1986, 1996, and 2006. Mycopathologia. 2011;171(6):387-393. doi:10.1007/s11046-011-9398-6