THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ TỰ CHĂM SÓC CỦA NGƯỜI BỆNH CÓ HẬU MÔN NHÂN TẠO TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NĂM 2025

Lương Thị Xuân1, Trương Quang Trung2, Nguyễn Thế Tuyền3, Nguyễn Thị Huế4
1 Bệnh viên Đa khoa Sơn La
2 Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec
3 Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
4 Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ và một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ tự chăm sóc hậu môn nhân tạo của người bệnh tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2025.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 74 người bệnh có hậu môn nhân tạo đang điều trị nội trú và tái khám tại Khoa Ngoại Hậu môn - Đại trực tràng và Sàn chậu, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 1-4 năm 2025. Kiến thức tự chăm sóc của người bệnh được đo lường qua 29 câu hỏi trắc nghiệm. Thái độ tự chăm sóc hậu môn nhân tạo gồm 6 câu hỏi. Dữ liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 26.0 với các thống kê mô tả và kiểm định Chi bình phương nhằm xác định mối liên quan giữa các biến.


Kết quả: Đa số người bệnh là nam giới (63,5%). Tuổi trung bình của người bệnh là 61,22 ± 14,23. 75,7% người bệnh có kiến thức tự chăm sóc đạt; kiến thức cao nhất ở lĩnh vực dinh dưỡng (81%), trong khi các lĩnh vực khác như tự chăm sóc hậu môn nhân tạo, xử trí tai biến/biến chứng và lối sống còn hạn chế. Về thái độ, chỉ 13,5% người bệnh có thái độ tích cực; 60,8% có thái độ trung bình và 25,7% có thái độ tiêu cực. Kiến thức có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với các yếu tố: tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nguồn tiếp cận thông tin và thời gian mang hậu môn nhân tạo (p < 0,05). Ngoài ra, có mối liên quan có ý nghĩa giữa kiến thức và thái độ tự chăm sóc (p = 0,036).


Kết luận: Kiến thức, thái độ tự chăm sóc hậu môn nhân tạo của người bệnh còn hạn chế. Cần tăng cường các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe, tư vấn cá nhân hóa và hỗ trợ tâm lý nhằm cải thiện hiệu quả tự chăm sóc, góp phần nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Maria A, Lieske B. Colostomy Care. StatPearls Publishing, 2024.
[2] Krouse R.S et al. A chronic care ostomy self-management program for cancer survivors. Psychooncology, 2016, 25 (5): 574-581. doi: 10.1002/pon.4070
[3] Abdelmohsen S.A. Effectiveness of structured education on patient’s knowledge and practice regarding colostomy care. Asia Pacific Journal of Oncology Nursing, 2020, 7 (4): 370-374. doi: 10.4103/apjon.apjon_24_20
[4] Aluzaite K et al. Quality of life in postostomy surgery patients: a cross-sectional survey. JGH Open, 2020, 4 (5): 987-994. doi: 10.1002/jgh3.12383
[5] Ngo T.D, Hawks M et al. Self-care knowledge in patients with intestinal stomas in a selected hospital in the South of Vietnam: a descriptive cross-sectional study. Belitung Nursing Journal, 2023, 9 (4): 331-338. doi: 10.33546/bnj. 2711
[6] Võ Thị Thanh Tuyền. Đo lường kiến thức, thái độ và thực hành tự chăm sóc của người bệnh có hậu môn nhân tạo tại Bệnh viện miền Nam Việt Nam. Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 2019, Phụ bản tập 23 (5): 218-223.
[7] Lê Thị Hoàn. Kiến thức, thái độ và thực hành của người bệnh tự chăm sóc hậu môn nhân tạo. Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 2013, 4 (17): 209-216.
[8] Phạm Thị Huế và cộng sự. Đánh giá thực trạng người bệnh tự chăm sóc hậu môn nhân tạo. Tạp chí Y Dược lâm sàng 108, 2020, 15 (số đặc biệt Hội nghị khoa học Điều dưỡng Bệnh viện TWQĐ 108 năm 2020): 259-264.
[9] Trần Thị Khang Ninh. Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành tự chăm sóc hậu môn nhân tạo của người bệnh tại Bệnh viện Trung ương Huế. Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế, 2023.
[10] Shanmugam R.S et al. Assess the knowledge, attitude and practice on ostomy care among ostomates attending stoma clinic. Asia Pacific Journal of Research, 2016, I (XXXVIII): 201-203.