TÌNH HÌNH THAI GIỚI HẠN TĂNG TRƯỞNG TRONG TỬ CUNG KHỞI PHÁT MUỘN TỪ 32 TUẦN TRỞ LÊN NHẬP VIỆN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA BÌNH DƯƠNG TỪ THÁNG 4-8 NĂM 2025
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm của thai giới hạn tăng trưởng trong tử cung khởi phát muộn ở thai phụ và thai nhi.
Đối tượng và phương pháp: Báo cáo loạt ca thai phụ có tuổi thai từ 32 tuần trở lên, được chẩn đoán thai giới hạn tăng trưởng trong tử cung khởi phát muộn nhập viện tại Bệnh viện Đa khoa Bình Dương từ tháng 4-8 năm 2025.
Kết quả: Trong 1893 ca sinh, có 28 trường hợp thai giới hạn tăng trưởng khởi phát muộn (tỷ lệ 1,47%). Nhóm thai phụ 20-34 tuổi chiếm 57,1%, BMI bình thường 67,9%, nhưng 17,9% suy dinh dưỡng; 17,9% có bất thường Doppler động mạch rốn, 32,1% bất thường động mạch não giữa và 28,6% thiểu ối. Tỷ lệ mổ lấy thai 64,3% (50% mổ cấp cứu), chủ yếu do suy thai; 64,3% trẻ nặng dưới 2500g, 71,4% trẻ nhập khoa sơ sinh, nhưng tỷ lệ sống 100%. Phần lớn trường hợp sinh ≥ 37 tuần, phù hợp đặc điểm thai giới hạn tăng trưởng muộn theo FIGO (2021) và ISUOG (2020).
Kết luận: Tỷ lệ thai giới hạn tăng trưởng muộn phổ biến ở nhóm thai phụ 20-34 tuổi và BMI bình thường. Bất thường Doppler chiếm tỷ lệ đáng kể, khẳng định giá trị của siêu âm Doppler trong theo dõi. Kết cục thai kỳ bất lợi khá cao: 64,3% sinh mổ, 71,4% nhập khoa sơ sinh. Thai giới hạn tăng trưởng muộn gây gánh nặng chăm sóc sơ sinh và đòi hỏi quản lý thai kỳ sát hơn.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Thai giới hạn tăng trưởng, khởi phát muộn, siêu âm Doppler.
Tài liệu tham khảo
[2] Martins J.G, Biggio J.R et al (Society for Maternal-Fetal Medicine). Society for Maternal-Fetal Medicine Consult Series #52: diagnosis and management of fetal growth restriction (replaces clinical guideline number 3, April 2012). American Journal of Obstetrics and Gynecology, 2020, 223 (4): B2-B17. doi: 10.1016/j.ajog.2020.05.010
[3] Nohuz E, Rivière O, Coste K et al. Prenatal identification of small-for-gestational age and risk of neonatal morbidity and stillbirth. Ultrasound in Obstetrics & Gynecology, 2020, 55 (5): 621-628. doi: 10.1002/uog.20282
[4] Bell E.F, Hintz S.R, Hansen N.I et al. Mortality, in-hospital morbidity, care practices, and 2-year outcomes for extremely preterm infants in the US, 2013-2018. JAMA, 2022, 327 (3): 248-263. doi: 10.1001/jama.2021.23580
[5] Đỗ Thị Thùy Trang, Lưu Thị Thanh Đào, Nguyễn Thái Hoàng. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết cục thai kỳ ở thai phụ với thai giới hạn tăng trưởng trong tử cung tại Bệnh viện Phụ Sản thành phố Cần Thơ năm 2021-2023. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, 2024 (70): 203-209. doi: 10.58490/ctump.2024i70.1364
[6] Lees C.C, Stampalija T, Baschat A et al. ISUOG practice guidelines: diagnosis and management of small-for-gestational-age fetus and fetal growth restriction. Ultrasound in Obstetrics & Gynecology, 2020, 56 (2): 298-312. doi: 10.1002/uog.22134
[7] American College of Obstetricians and Gynecologists. Fetal growth restriction (Practice Bulletin No.227), 2021.
[8] Lê Thị Kiều Trang, Huỳnh Nguyễn Khánh Trang. Kết cục thai kỳ ở thai suy dinh dưỡng từ 34 tuần nhập viện tại Bệnh viện Hùng Vương. Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 2018, 22 (1): 55-59.
[9] Thái Bằng, Đinh Thanh Hà và cộng sự. Kết cục thai chậm tăng trưởng trong tử cung từ 34 tuần tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Nha Trang. Tạp chí Y Dược học Quân sự, 2024, 49 (9): 153-162. doi: 10.56535/jmpm.v49i9.911