ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ DẠ DÀY ĐƯỢC PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT TOÀN BỘ DẠ DÀY TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

Nguyễn Văn Thanh1,2, Lâm Việt Trung2, Phạm Văn Năng1
1 Bộ môn Ngoại, Khoa Y, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
2 Khoa Ngoại tiêu hóa, Bệnh viện Chợ Rẫy

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân ung thư dạ dày được phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ dạ dày tại Bệnh viện Chợ Rẫy.


Phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 74 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư dạ dày và được phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ dạ dày tại Khoa Ngoại tiêu hóa, Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 10/2023 đến tháng 10/2025. Dữ liệu được thu thập và phân tích bằng phần mềm SPSS 22.0.


Kết quả: Nam giới chiếm 55,4%, tuổi trung bình là 59,03 ± 9,75; nhóm tuổi 60-69 chiếm tỷ lệ cao nhất (44,6%). Nghề nghiệp chủ yếu là nông dân (52,7%), phần lớn bệnh nhân đến từ các tỉnh, thành ngoài thành phố Hồ Chí Minh (85,1%). U chủ yếu ở thân vị (63,5%). Đau bụng là triệu chứng thường gặp nhất (100%), tiếp theo là gầy sút (24,3%) và thiếu máu (17,6%). Thời gian mắc bệnh trung bình 1,27 ± 0,68 tháng; 75,7% nhập viện trong vòng 1 tháng. Đa số bệnh nhân có tình trạng huyết học và dinh dưỡng còn tương đối ổn định trước mổ. Nội soi ghi nhận thể loét sùi chiếm ưu thế (48,6%). Ung thư biểu mô tuyến chiếm đa số (93,2%), trong đó biệt hóa vừa chiếm tỷ lệ cao nhất (64,9%).


Kết luận: Bệnh nhân ung thư dạ dày được phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ dạ dày chủ yếu là nam giới lớn tuổi, u thường gặp ở thân vị. Đau bụng là triệu chứng nổi bật nhất. Đa số bệnh nhân có tình trạng trước mổ tương đối ổn định. Đặc điểm nội soi và mô bệnh học phù hợp với ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển, trong đó ung thư biểu mô tuyến chiếm ưu thế.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Sung H, Ferlay J, Siegel R.L, Laversanne M, Soerjomataram I, Jemal A et al. Global cancer statistics 2020: GLOBOCAN estimates of incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185 countries. CA Cancer J Clin, 2021,71 (3): 209-249. doi: 10.3322/caac.21660
[2] Nguyễn Văn Xuyên. Ung thư dạ dày. Trong: Bệnh học ngoại khoa (giáo trình đại học). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2010, tr. 136-148.
[3] Adachi Y, Kitano S, Sugimachi K. Surgery for gastric cancer: 10-year experience worldwide. Gastric Cancer, 2001, 4 (4): 166-174. doi: 10.1007/s10120-001-8007-7
[4] Liu F, Huang C, Xu Z, Su X, Zhao G, Ye J et al. Morbidity and mortality of laparoscopic vs open total gastrectomy for clinical stage i gastric cancer: the CLASS02 multicenter randomized clinical trial. JAMA Oncol, 2020, 6 (10): 1590-1597. doi: 10.1001/jamaoncol.2020.3152
[5] Garbarino G.M, Laracca G.G, Lucarini A. Laparoscopic versus open surgery for gastric cancer in Western countries: a systematic review and meta-analysis of short- and long-term outcomes. J Clin Med, 2022, 11 (13): 3590. doi: 10.3390/jcm11133590
[6] Phạm Văn Nam. Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi cắt dạ dày, vét hạch D2, D2 mở rộng điều trị ung thư biểu mô dạ dày. Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2019.
[7] Japanese Gastric Cancer Association. Japanese classification of gastric carcinoma: 3rd English edition. Gastric Cancer, 2011, 14 (2): 101-112. doi: 10.1007/s10120-011-0041-5
[8] Japanese Gastric Cancer Association. Japanese gastric cancer treatment guidelines 2021, 6th edition. Gastric Cancer, 2023, 26 (1): 1-25. doi: 10.1007/s10120-022-01331-8
[9] Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Kết quả phẫu thuật nội soi cắt gần toàn bộ dạ dày điều trị ung thư dạ dày. Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, 2023.
[10] Đinh Văn Chiến. Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ dạ dày vét hạch D2 trong điều trị ung thư biểu mô dạ dày. Luận án tiến sĩ y học. Trường Đại học Y Dược Hải Phòng, 2022.