ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH NỘI SOI DẠ DÀY - TÁ TRÀNG Ở BỆNH NHÂN VIÊM KHỚP DẠNG THẤP CÓ THIẾU MÁU ĐIỀU TRỊ TẠI THÁI NGUYÊN

Hà Thị Huệ Lanh1, Đoàn Anh Thắng2, Nguyễn Thị Thu Huyền1, Hà Thanh Tâm3, Lê Anh Tuấn4
1 Trường Đại học Y dược Thái Nguyên
2 Bệnh viện trường Đại học Y dược Thái Nguyên
3 Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên
4 Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tổn thương dạ dày - tá tràng trên nội soi, đồng thời phân tích mối liên quan giữa tổn thương nội soi với tình trạng thiếu máu và mức độ hoạt động bệnh của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp có thiếu máu điều trị tại Thái Nguyên.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 39 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp có thiếu máu được nội soi dạ dày - tá tràng điều trị tại khoa Cơ xương khớp bệnh viện Trung ương Thái Nguyên và bệnh viện A Thái Nguyên từ tháng 7/2024 đến 6/2025.


Kết quả: Tuổi trung bình là 61,87 ± 11,25. Thời gian phát hiện bệnh ≤ 2 năm chiếm 59%. Bệnh nhân thiếu máu chủ yếu ở mức độ nhẹ 89,7%. Số khớp đau và sưng trung bình lần lượt là 10,64 ± 7,20; 3,92 ± 3,32. Hoạt động bệnh không ổn định chiếm ưu thế 76,9%. Tất cả bệnh nhân đều có tổn thương trên nội soi, xung huyết/phù nề là tổn thương hay gặp nhất ở tất cả các vị trí của dạ dày - tá tràng, loét gặp nhiều nhất ở hành tá tràng (31,2%) và hang vị, tiền môn vị (20,3%), tổn thương trợt gặp nhiều nhất ở hang vị (25%), viêm teo niêm mạc gặp nhiều nhất ở phình vị (14,3%). Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tổn thương loét với mức độ thiếu máu (p = 0,017) và với mức độ hoạt động bệnh (p = 0,007).


Kết luận: Bệnh nhân viêm khớp dạng có thiếu máu có hoạt động bệnh không ổn định. Tổn thương niêm mạc dạ dày – tá tràng trên nội soi rất phổ biến, trong đó loét có mối liên quan với tình trạng thiếu máu và mức độ hoạt động bệnh.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Lê Thị Thanh Ngà, Hoàng Văn Dũng, Nguyễn Hoài Nam. Đặc điểm tổn thương dạ dày tá tràng ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp có sử dụng glucocorticoid. Tạp chí Y học Việt Nam, 2021; tr. 249–253, doi: https://doi.org/10.51298/vmj.v506i1.1214
[2] Mai Quang Huy. Đặc điểm của hội chứng thiếu máu ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp. Tạp chí Y học lâm sàng, 2022; tr. 80–89. doi: 10.38103/jcmhch.80.9
[3] Nguyễn Văn Tuấn. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tình hình điều trị của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An. Tạp chí Y học Việt Nam, 2021; 504(2). doi: https://doi.org/10.51298/vmj.v504i2.953
[4] Phạm Hoàng Quyên. Mô tả đặc điểm lâm sàng bệnh nhân nữ viêm khớp dạng thấp tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương năm 2021. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024; 539(1). doi: https://doi.org/10.51298/vmj.v539i1.9718
[5] Vũ Đình Hùng, Nguyễn Đình Khoa. Bệnh học những bệnh cơ xương khớp thường gặp. Nhà xuất bản Y học, 2021; tr. 103–135.
[6] Abideen MZ. Frequency of Different Types of Anemia in Patients of Rheumatoid Arthritis presenting to a Tertiary Care Hospital. Pakistan Armed Forces Medical Journal, 2025; 75(3):459–463.
[7] Sun Y, Liu J, Xin L, et al. Factors influencing the Sharp score of 1057 patients with rheumatoid arthritis and anemia: a retrospective study. Journal of International Medical Research, 2022; 50(3):3000605221088560.
[8] Wilson A, Yu HT, Goodnough LT, et al. Prevalence and outcomes of anemia in rheumatoid arthritis: a systematic review of the literature. American Journal of Medicine, 2004; 116(Suppl 7A):50s–57s.