THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI BỆNH VIỆN TRƯNG VƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2019 – 2024 VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả thực trạng nghiên cứu khoa học (NCKH) tại Bệnh viện Trưng Vương, Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) giai đoạn năm 2019-2024 và phân tích các yếu tố ảnh hưởng.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính, thu thập thông tin thực trạng NCKH qua khảo sát 316 nhân viên y tế (NVYT) và hồi cứu hồ sơ NCKH giai đoạn 2019-2024, các yếu tố ảnh hưởng được tìm hiểu thông qua 8 phỏng vấn sâu (PVS) và 4 thảo luận nhóm (TLN).
Kết quả: Giai đoạn 2019-2024, bệnh viện có 55 đề tài nghiên cứu và 14 công bố khoa học với 64,3% là tạp chí trong nước. Tuổi trung bình của NVYT là 36,6±9,2 tuổi và nữ chiếm 71,5%. Tỉ lệ tham gia NCKH là 38,9%. Có khác biệt ý nghĩa thống kê giữa tuổi, trình độ học vấn, đơn vị công tác, chức vụ với tình trạng tham gia NCKH của NVYT (p<0,05). Những yếu tố ảnh hưởng NCKH được đề cập theo 6 nhóm chức năng của hệ thống y tế theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) bao gồm: Nhân lực y tế, hệ thống thông tin, công nghệ/cơ sở hạ tầng/trang thiết bị, tài chính, tổ chức quản lý, cung ứng dịch vụ y tế.
Kết luận: Hoạt động NCKH của Bệnh viện Trưng Vương giai đoạn 2019-2024 có xu hướng giảm dần. Các yếu tố ảnh hưởng thực trạng NCKH trên 6 khía cạnh chức năng của hệ thống y tế theo WHO. Bệnh viện cần có bộ phận quản lý NCKH chuyên biệt và phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu để tăng sự thuận lợi về mặt quản lý, tiếp cận và thực hiện NCKH cho NVYT.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Nghiên cứu khoa học, Bệnh viện Trưng Vương, các yếu tố ảnh hưởng
Tài liệu tham khảo
[2]. Hệ thống Thông tin thống kê Khoa học và công nghệ. Thống kê nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Thành phố giai đoạn 2020-2022. Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh; 2023.
[3]. Đặng Văn Khanh, Vũ Thị Thanh Tâm. Khảo sát nhận thức về nghiên cứu khoa học ở nhân viên y tế tại các bệnh viện thuộc Quân khu 7. Tạp chí Y Dược thực hành 175. 2019(20-12/2019):21-7. Available at: https://jpmp175.vn/yduocthuchanh175/article/view/182
[4]. World Health Organization. Monitoring the building blocks of health systems - a handbook of indicators and their measurement strategies: WHO. 2010.
[5]. Lê Thị Thơi, Nguyễn Thị Thảo Sương, Thuận VT. Thực trạng nghiên cứu khoa học của điều dưỡng tại Bệnh viện Thống Nhất giai đoạn 2021 - 2023. Tạp chí Sức khỏe và Lão hóa. 2025;1(1):85-90. DOI: https://doi.org/10.51298/vmj.v530i2.6819
[6]. Phí Vĩnh Bảo, Đinh Văn Quỳnh, Nguyễn Hữu Nghĩa, Trần Thị Bích Ân. Kết quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học cấp cơ sở tại bệnh viện thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2017 - 2021. Tạp chí Y học Cộng đồng. 2024;65(CD8):8-14. DOI: https://doi.org/10.52163/yhc.v65iCD8.1452
[7]. Trần Trung Tính, Hứa Thái Nhân, Lê Văn Khoa và cs. Hiện trạng và giải pháp nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học Cần Thơ. Can Tho University Journal of Science. 2020;56(4). DOI: 10.22144/ctu.jvn.2020.095
[8]. Ogunsanya ME, Beebe LA, Campbell JE, et al. Exploring barriers, needs, and facilitators for clinical and translational research in Oklahoma: A sequential mixed-methods study. J Clin Transl Sci. 2025;9(1):e155. DOI: 10.1017/cts.2025.10066
[9]. Weerasinghe K, Olawade DB, Teke J, Msiska M, Boussios S. The Impact of AI-Driven Chatbot Assistance on Protocol Development and Clinical Research Engagement: An Implementation Report. J Pers Med. 2025;15(7). DOI: 10.3390/jpm15070269
[10]. Đỗ Thị Phương, Nguyễn Ngọc Bích. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành dựa vào bằng chứng của điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện 19 - 8, Bộ Công an năm 2025. Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng. 2025(3):128-40. DOI: https://doi.org/10.54804/yhthvb.3.2025.444