HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU CHO PHẪU THUẬT NGỰC CÓ HỖ TRỢ NỘI SOI BẰNG PHONG BẾ MẶT PHẲNG CƠ RĂNG TRƯỚC KẾT HỢP PHONG BẾ KHOANG CẠNH CỘT SỐT NGỰC TỪ TRONG NGỰC

Nguyễn Ngọc Vinh1, Nguyễn Quốc Kính2
1 Trường Đại học Y Hà Nội
2 Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả vô cảm trong mổ và giảm đau sau mổ của phối hợp phong bế mặt phẳng cơ răng trước (SAPB) trước khởi mê và gây tê khoang cạnh cột sống ngực (TPVB) đặt từ trong ngực trước khi đóng ngực ở phẫu thuật lồng ngực có nội soi hỗ trợ (VATS).
Đối tượng & phương pháp: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng được tiến hành trên 30 bệnh nhân được phẫu thuật lồng ngực có nội soi hỗ trợ (VATS) tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Phong bế mặt phẳng cơ răng trước (SAPB) được thực hiện trước khởi mê dưới hướng dẫn siêu âm, sau đó gây tê khoang cạnh cột sống ngực (TPVB) được tiến hành bởi phẫu thuật viên dưới quan sát trực tiếp bằng nội soi trước khi khâu đóng da. Các chỉ số được ghi nhận và phân tích bao gồm: thời gian khởi phát, phạm vi vùng cảm giác bị phong bế, thời gian duy trì giảm đau, lượng fentanyl sử dụng trong mổ và nhu cầu morphin sau mổ qua hệ thống giảm đau do bệnh nhân tự kiểm soát (PCA).
Kết quả: thời gian khởi phát (onset) 5,13 ± 0,73 phút; chu vi vùng tê 56,23 ± 8,32 cm; tổng thời gian tác dụng SAPB+TPVB 516,83 ± 23,36 phút; fentanyl dùng trong mổ 108,33 ± 18,95 mcg. Điểm VAS khi nghỉ, khi vận động và khi ho đều ở mức thấp ngay sau phẫu thuật, tăng nhẹ trong vài giờ đầu, sau đó giảm dần và duy trì ổn định ở mức thấp đến 72 giờ sau mổ.Nhu cầu morphin (PCA): tổng liều 24 giờ 23,50 ± 3,98 mg; 72 giờ 34,76 ± 3,86 mg; thời gian đến liều “rescue” đầu tiên 431,0 ± 18,82 phút; số lần yêu cầu không được đáp ứng 6,37 ± 0,49.
Kết luận: Phối hợp SAPB trước khởi mê và TPVB từ trong ngực trước khi đóng ngực giúp đảm bảo vô cảm trong mổ, giảm đau sau mổ hiệu quả và bền vững đến 72 giờ với nhu cầu morphin thấp ở bệnh nhân VATS. hô

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Tschernko EM, Hofer S, Bieglmayer C, Wisser W, Haider W. Early postoperative stress: video-assisted wedge resection/lobectomy vs conventional axillary thoracotomy. Chest. 1996;109(6):1636-1642. Doi:10.1378/ chest.109.6 .1636
[2] Perttunen K, Nilsson E, Kalso E. I.v. diclofenac and ketorolac for pain after thoracoscopic surgery. Br J Anaesth. 1999 Feb;82(2):221-7. Doi: 10.1093/bja/82.2.221. PMID: 10364998.
[3] Chen G, Li Y, Zhang Y, Fang X.

Effects of serratus anterior plane block for postoperative analgesia after thoracoscopic surgery compared with local anesthetic infiltration: a randomized clinical trial

. J Pain Res. 2019;12:2411-2417. Doi:10.2147/JPR.S207116
[4] Bartakke DAA, Varma DMK. Analgesia for Breast Surgery — A Brief Overview. Published online 2019:7.
[5] Khalil AE, Abdallah NM, Bashandy GM, Kaddah TAH. Ultrasound- Guided Serratus Anterior Plane Block Versus Thoracic Epidural Analgesia for Thoracotomy Pain. J Cardiothorac Vasc Anesth. 2017;31(1):152-158. Doi:10.1053/j.jvca.2016.08.023
[6] Richardson J and Lönnqvist PA. Thoracic paravertebral block. British Journal of Anaesthesia; 1998;81: 230 - 238. Doi: 10.1093/bja/81.2.230
[7] Nguyễn Thị Mỹ Hạnh. So sánh hiệu quả phong bế mặt phẳng cơ răng trước với phong bế thần kinh ngực trong phẫu thuật lồng ngực có nội soi hỗ trợ; Tạp chí Y học Việt Nam;2022; tập 522, tr 365-369.
[8] Jesephien Chenesseau et al. Effectiveness of Surgeoan-Performed Paravertebra Block Anasegesia for Minimally Invasive Thoracic Surgery: A Randomized Clinical Trail. JAMA Surg; 2023; 158(12):1256-1263. Doi: 10.1001/jamasurg.2023.5228