ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA BỆNH NHÂN SỬ DỤNG EPSORA TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH VẢY NẾN TẠI PHÒNG KHÁM DA LIỄU FOB NĂM 2024

Huỳnh Văn Bá1, Nguyễn Văn Nguyên2, Huỳnh Bạch Cúc3, Phạm Thị Bảo Trâm1
1 Trường Đại học Y dược Cần Thơ
2 Trung tâm giáo dục nghề nghiệp thẩm mỹ FOB
3 Bệnh viện Nguyễn Tri Phương

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu:  Mô tả kết quả điều trị bằng E-psora và sự hài lòng của bệnh nhân vảy nến tại phòng khám da liễu FOB năm 2024.


Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 58 bệnh nhân vảy nến mảng nhẹ–trung bình, điều trị tại Phòng khám Da liễu FOB từ 01–10/2024. Hiệu quả đánh giá bằng PASI, DLQI; sự hài lòng đo bằng thang Likert.


Kết quả: chỉ số PASI trung bình giảm rõ rệt từ 6,97 xuống 2,13 (p<0,001). Tỷ lệ bệnh nhân đạt PASI50 và PASI75 lần lượt là 76,9% và 38,5%. Điểm DLQI phản ánh chất lượng cuộc sống giảm có ý nghĩa từ 7,26 còn 4,52 sau điều trị. Tác dụng phụ ghi nhận thấp, chủ yếu đỏ da (15,5%) và ngứa nhẹ (8,6%). Đa số bệnh nhân hài lòng với hiệu quả, tính an toàn và sự tiện lợi của phương pháp điều trị.


Kết luận: E-psora cho hiệu quả cải thiện rõ rệt triệu chứng vảy nến mảng nhẹ – trung bình, cải thiện chất lượng cuộc sống với ít tác dụng phụ. Phần lớn bệnh nhân hài lòng và sẵn sàng tiếp tục sử dụng phương pháp điều trị này.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Nguyễn Thị Thảo My (2021), ―Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị tại chỗ bệnh vảy nến mảng bằng E-PSORA (PHA, jojoba oil, vitamin E) trên bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Da Liễu Thành Phố Cần Thơ và Bệnh viện Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ năm 2019- 2021, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.
[2] Dand N., S. K. Mahil, F. Capon, C. H. Smith, M. A. Simpson and J. N. Barker (2020), “Psoriasis and Genetics”, Acta Derm Venereol, 100(3), pp. adv00030. 10.2340/00015555-3426.
[3] Nguyễn Minh Đấu, Trần Gia Hưng and Huỳnh Văn Bá (2024), “ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TẠI CHỖ
BỆNH VẢY NẾN MẢNG BẰNG E-PSORA CREAM (PHA, JOJOBA OIL, VITAMIN E) TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU CẦN THƠ VÀ VIỆN NGHIÊN CỨU DA THẨM MỸ QUỐC TẾ FOB NĂM 2022-2023”, Tạp chí Y học Việt Nam, 540(3). https://doi.org/10.51298/vmj.
v540i3.10528.
[4] Trần Phương Quyên, Huỳnh Văn Bá, Huỳnh Văn Sang, (2024), “NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ SO SÁNH KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TẠI CHỖ BỆNH VẢY NẾN MỨC ĐỘ NHẸ, TRUNG BÌNH BẰNG CALCIPOTRIOL VỚI KEM E-PSORA (PHAs, JOJOBA OIL, VITAMIN E) TẠI CẦN THƠ NĂM 2022 – 2024”, Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, (77), pp. 419-424. https://doi.org/10.58490/ctump.2025i86.3548.
[5] Jerajani H. R., J. Thomas, A. Gupta, G. N. R. Netha, R. Chawla, R. Shaikh, et al. (2019), “A Real-World, Non-interventional Indian Study Evaluating Intensive Plant-Based Butter Moisturizing Cream in Psoriasis”, Dermatol Ther (Heidelb), 9(3), pp. 537-546. 10.1007/s13555-019-00314-9.
[6] Chen K., G. Wang, H. Jin, J. Xu, X. Zhu, M. Zheng, et al. (2017), “Clinic characteristics of psoriasis in China: a nationwide survey in over 12000 patients”, Oncotarget, 8(28), pp. 46381-46389. 10.18632/oncotarget.17914.
[7] Nguyễn Trọng Hào (2016), Nghiên cứu rối loạn lipid máu ở bệnh nhân vảy nến và hiệu quả điều trị hỗ trợ của simvastatin trên bệnh vảy nến thông thường, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội, Trường Đại học Y Hà Nội.
[8] Lin Y. K., C. J. Chang, Y. C. Chang, W. R. Wong, S. C. Chang and J. H. Pang (2008), “Clinical assessment of patients with recalcitrant psoriasis in a randomized, observer-blind, vehicle-controlled trial using indigo naturalis”, Arch Dermatol, 144(11), pp. 1457-64. 10.1001/archdermatol.2008.508.
[9] Finlay A. Y. and G. K. Khan (1994), “Dermatology Life Quality Index (DLQI)--a simple practical measure for routine clinical use”, Clin Exp Dermatol, 19(3), pp. 210-6. 10.1111/j.1365-2230.1994.tb01167.x.