SO SÁNH HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU TRONG CHUYỂN DẠ ĐẺ CỦA GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG GIỮA TRUYỀN THUỐC TÊ LIÊN TỤC VỚI TIÊM NGẮT QUÃNG TỰ ĐỘNG

Nguyễn Công Hùng1, Nguyễn Đức Lam2,3, Nguyễn Công Hoàng4, Đỗ Văn Lợi5
1 Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
2 Trường Đại học Y Hà Nội
3 Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội
4 Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên
5 Bệnh viện Đại học Phenikaa

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: So sánh hiệu quả giảm đau trong chuyển dạ của phương pháp truyền thuốc tê liên tục với phương pháp tiêm ngắt quãng tự động các liều nhỏ thuốc tê khi gây tê ngoài màng cứng bằng Anaropin 0,1% phối hợp với Fentanyl 1 mg/ml.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có so sánh, trên 40 sản phụ đẻ giảm đau bằng phương pháp truyền thuốc tê liên tục (nhóm CEI) và 40 sản phụ đẻ giảm đau bằng phương pháp tiêm ngắt quãng tự động các liều nhỏ thuốc tê (nhóm PIEB) khi gây tê ngoài màng cứng bằng Anaropin 0,1% phối hợp với 1 mg/ml Fentanyl, tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ tháng 8/2024 đến tháng 6/2025.


Kết quả: Thời gian khởi tê trung bình ở hai nhóm không khác biệt (nhóm CEI 10,70 ± 1,92 phút; nhóm PIEB 10,88 ± 2,94 phút; p > 0,05). Sau gây tê, điểm VAS của cả hai nhóm đều giảm, nhưng từ phút thứ 20 trở đi nhóm PIEB giảm đau tốt hơn (p < 0,05). Ở giai đoạn II chuyển dạ và khi khâu tầng sinh môn, điểm VAS nhóm PIEB thấp hơn có ý nghĩa thống kê. Cảm giác và khả năng rặn được duy trì tốt ở cả hai nhóm (p > 0,05). Lượng thuốc giảm đau trung bình ở nhóm PIEB thấp hơn nhóm CEI (29,90 ± 10,11 mg so với 38,06 ± 18,09 mg; p < 0,05). Không có sản phụ nhóm PIEB cần bolus bổ sung (0% so với 17,5%; p < 0,05). Thời gian giảm đau sau sinh dài hơn ở nhóm PIEB (1,84 ± 0,24 giờ so với 1,69 ± 0,37 giờ; p < 0,05). Mức độ hài lòng của sản phụ cao hơn ở nhóm PIEB (100% so với 92,5%).


Kết luận: Phác đồ gây tê của nhóm nhóm PIEB cho hiệu quả giảm đau tốt hơn, kéo dài hơn, sử dụng ít thuốc hơn và mức độ hài lòng của sản phụ cao hơn so với nhóm CEI. Cả hai phác đồ đều duy trì tốt cảm giác và khả năng rặn, không ảnh hưởng đến tiến trình chuyển dạ hay tỷ lệ mổ lấy thai.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Hernandez A.N.A, Hendrix J.M. Epidural anestheH.T. Duyen et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, No. 1,79-8484 www.tapchiyhcd.vnsia. StatPearls Publishing, 2025.
[2] Bệnh viện Quân y 103. Bài giảng chuyên ngành ngoại khoa - gây mê - gây tê ngoài màng cứng,2020.
[3] Riley E.T, Carvalho B. Programmed intermittent epidural boluses (PIEB) for maintenance of labor analgesia: A superior technique to continuous epidural infusion? Turk J Anaesthesiol Reanim,2017, 45 (2): 65-66. 10.5152/TJAR.2017.09031.
[4] Huang R, Zhu J, Zhao Z, Wang B. The effect of programmed intermittent epidural bolus compared with continuous epidural infusion in labor analgesia with ropivacaine: a meta-analysis of randomized controlled trials. Ann Palliat Med, 2021, 10 (3): 2408-2420. 10.21037/apm-20-1919
[5] Trịnh Thị Hằng, Nguyễn Đức Lam, Trịnh Duy Hưng,Phạm Thị Thanh Huyền. So sánh hiệu quả giảm đau của phương pháp truyền thuốc tê liên tục với phương pháp tiêm ngắt quãng tự động các liều thuốc tê khi gây tê ngoài màng cứng giảm đau trong chuyển dạ. Tạp chí Y học Việt Nam, 2022,
518 (1): 187-190. 10.51298/vmj.v518i1.3349.
[6] Haidl F, Rosseland A.L, Rørvik A.M, Dahl V. Programmed intermittent boluses vs continuous epidural infusion in lab or using an adrenaline containing solution: A randomized trial. Acta Anaesthesiologica Scandinavica, 2020, 64 (10): 1505-1512. 10.1111/aas.13689.
[7] Trần Văn Quang. Đánh giá hiệu quả giảm đau trong chuyển dạ đẻ bằng gây tê ngoài màng cứng Levobupivacain phối hợp với Fentanyl ở các nồng độ và liều lượng khác nhau. Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2015. 10.46755/vjog.2025.3.1913.
[8] Nguyễn Thị Thanh Huyền. So sánh hiệu quả của Levobupivacain với Bupivacain gây tê ngoài màng cứng giảm đau trong đẻ. Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2010.
[9] Dương Quang Chiến, Nguyễn Đình Long, Nguyễn Toàn Thắng. Đánh giá tác dụng trong chuyển dạ của hỗn hợp Ropivacaine 0,1% + Fentanyl 2 μg/ml tiêm ngoài màng cứng theo chương trình ở tốc độ 125 ml/giờ và 250 ml/giờ. Tạp chí Y học Quân sự, 2023, 367: 27-32. 10.59459/1859-1655/JMM.340.